THUẬT TƯ TƯỞNG – Nguyễn Duy Cần

Thông minh là biết nhận thấy sự liên quan giữa sự vật.

Đem vật mình chưa biết sắp vào hạng loại mình đã biết. Vì thế, người học hỏi sâu rộng, thường có được những phán đoán tinh vi đúng đắn hơn kẻ học nông thấy hẹp. Ta biết được điều điều gì là nhờ so sánh với những điều cùng một loại với  nó mà ta đã có thấy, có hiểu trước.

Quả quyết cũng là một cách sai khiến nữa mà là sai khiến một cách phong nhã, kín đáo… Mỗi khi ta quả quyết một ý kiến hay một điều tin tưởng nào, cố nhiên là ta muốn cho kẻ khác cũng tán đồng. Bởi vậy, tánh cố chấp tuy là một tật xấu rất to, nhưng nó là một hiện tượng rất tự nhiên của tâm lý. Phải có một hiểu biết thật rộng, tư cách thật cao mới có thể hiểu và dung được những tư tưởng trái nghịch của kẻ khác, nghĩa là có thể hiểu được kẻ khác, mà không một lòng nào bực dọc cả. Nhưng mà tin tưởng thái quá lại thành ra Tín ngưỡng.

Một thị dục mà được phần đông công chúng hoan nghênh thừa nhận, sẽ là một tín ngưỡng có một lực lượng phi thường. Đối với tín ngưỡng của quần chúng-dầu là tín ngưỡng về chính trị hay tôn giáo cũng vậy-thời không thể dùng đến lý luận đánh đổ được nữa. Bởi vậy, tín ngưỡng ấy là hiện thân của một dục vọng không bờ bến, như một cuồng phong vô cùng mãnh liệt. Ảnh hưởng có nó rất to tát, vậy trước tình thế này, ta phải biết nhẫn nại mà chiều theo. Pascal nói: “Tại sao ta lại phải chiều theo phần đông? Đâu phải vì họ có lý hơn ta, mà chỉ vì họ mạnh hơn ta đó thôi”.

Chiều theo học, là để mà sửa đổi họ, không phải để a dua, nếu mình là một bậc thức giả.

Ở đời phải có một lý tưởng để làm phương châm cho hành động hàng ngày của mình. Ai ai cũng có quyền có tín ngưỡng cả. Nhưng không nên đem những tín ngưỡng của mình mà cho nó là những chân lý khách quan. Người mà được gọi là có một cơ sở triết học và giáo dục hoàn toàn, là người biết dùng một cách đúng đắn, không lầm lẫn với nhau những câu nói này:

Tôi biết;

Tôi tưởng rằng tôi biết; và

Tôi tin.

Kẻ thiếu óc phê bình, thiếu học thức, là kẻ không đủ sức phân biệt được cách dùng những tiếng nói trên đây. Điều mình tưởng là biết chưa phải là điều mình biết, mà điều mình tin chưa ắt là điều mình biết. Biết đâu mình tin là vì nó thuận với lòng ao ước hay thị dục của mình, hoặc vì mình bị ảnh hưởng gia đình, xã hội chứ không phải vì đã dò xét rõ ràng rồi mà tin, tin như nhà khoa học.

Cổ nhân có nói: “Biết, thì biết là mình biết; không biết, thì biết là mình không biết, mới thật là biết vậy” (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã).

Trong đời sống hàng ngày trong khi bàn cãi hay bút chiến, người ta hay dùng những phép diễn dịch làm khí giới để chiến đấu rất đắt lực. Miễn là mình làm sao cho người ta nhận cái “dại tiền đề” (nguyên lý) của  mình trước đi, thì người ấy đã ở trong tay mình rồi vậy. Thường những nguyên lý mình đưa ra đó, toàn là những chân lý thông thường, ai ai cũng dễ nhận. Đã là nhận rồi, thì họ không thoát khỏi kết luận mình, vì họ phải nhận luôn nó nữa, không thế thì họ tự mâu thuẫn với họ còn gì!

Một nhà hiền triết khuyên ta: “Khi nghe tiếng đồn xấu kẻ khác, ta nên tự hỏi như vầy: “Ta không nên nghe những lời đồn đãi xấu xa của kẻ khác. Vì hai lẽ: hoặc người bị nói xấu đây là ưng, hoặc người ấy bị oan. Nếu ưng, thì với sự phê bình của mình đây là thêm cho họ một sự đau đớn nữa, đó là ta thiếu lòng nhân. Nếu người ấy bị oan, thì lời phê bình của ta đây là lời phê bình bất công và phạm vào tội gièm pha. Bởi vậy, nghe lời nói xấu kẻ khác mà nghe theo và phê bình, thế nào ta cũng phạm một điều: bất nhân hoặc bất công. Bất nhược ta đừng phê bình tới là xong.

Cái lý của vật thấu rồi thì hiểu biết mới đến nơi;
Sự hiểu biết đến nơi rồi thì ý mới thành;
Ý thành rồi, thì tâm mới chánh;
Tâm chánh rồi, thân mới tu;
Thân tu rồi, thì nhà mới tề;
Nhà tề rồi, thì nước mới trị;
Nước trị rồi, thì thiên hạ mới thái bình.

Một ức thuyết mà muốn được gọi là khoa học, phải có đủ những điều kiện sau này:

  1. Nó phải căn cứ vào sự thật
  2. Nó không bị phản đối vị một sự thật nào cả, nghĩa là trong khi thí nghiệm, không bị phải một thí nghiệm nào phản đối nó cả
  3. Nó phải là một nguyên lý dồi dào phong phú, nghĩa là gợi ra được nhiều cuộc tìm kiếm mới mẻ, gây ra được nhiều cuộc thí nghiệm
  4. Nó phải đơn giản. Chính vì lý thuyết của Ptoleme rất phiền phức nên Copernic mới nghĩa ra một ức thuyết khác đơn giản hơn. Đơn là điều kiện cốt yếu của một ức thuyết hay.

Tôi thường thường thích cái học của Lão Trang. Nhưng đọc sách, lại rất ưa đọc những sách bài bác Lão Trang. Những lý lẽ người ta đã viện ra để kích bác cái học ấy, tôi hay biên ra để cho dễ nhớ. Là vì tôi muốn đi sâu vào học thuyết ấy mà khỏi phải bị một thiên kiến gì cả. Khi mình đã có ưa thích một điều gì, mình phải biết lo ngừa có sự thiên lệch về điều ấy. Bất kì là học cái chi, tôi nhớ đến phương pháp này luôn, đến nó đã thành một thói quen rồi vậy.

Ta thường tưởng cho ai cũng có một tánh tình như ta: Nếu ta là người chân chất thật thà, ta tưởng cho ai cũng chân chất thật thà. Nếu ta là người ưa dối trá xảo nguỵ, thì lại tưởng cho ai cũng dối trá xảo nguỵ như mình. Luôn luôn ta lý luận như thế, thật là lầm lạc dễ dàng quá. Ở đời, bao giờ có hai cục đá giống nhau, hoặc hai cọng là giống nhau. Ở nơi con người, thì sự sai biệt lại còn rõ rệt hơn nữa.

“Cá không ăn muối cá ươn,

Con không nghe cha mẹ, trăm đường con hư”.

Cái đó chưa ắt, vì còn tuỳ… Còn phải coi cách các ươn có trăm phần trăm giống cái cách con hư hay không; còn phải coi hiệu quả của lời cha mẹ đối với con, có được hiệu quả như muối đối với cá hay không.

“Giá trị của người này trong một giới này, không đủ đảm bảo giá trị của họ trong một giới khác”-André Gide.

Nghĩa là, người tài giỏi ở bên môn này, không đủ đảm bảo rằng họ cũng tài giỏi luôn về môn khác. Nhà bác sĩ đại danh là người tài giỏi bên y giới thôi, chưa ắt vì lẽ ấy, vì tên tuổi họ mà cho họ cũng tài giỏi luôn bên chính trị hay văn chương, nếu ta chưa thấy đủ bằng cớ. Nhiều người thường nói: “Ông này ăn học giỏi lẽ nào thất nghiệp”. Hoặc: “Ông này học rộng tài cao, nếu ra buôn bán chắc không ai theo kịp”. Là vì họ thấy phần đông kẻ buôn bán ít thấy có người ăn học giỏi. Cái đó chưa ắt. Có nhiều bậc bác học, nếu theo qua nghề buôn, lại có khi vụng về hơn một kẻ quê mùa dốt nát.

Tại sao phần đông người ta hay sa vào cái lối luận giản lược này? Là vì bản tính của con người rất ưa sự giản dị, rất ghét sự phiền phức. Mà thực sự ở đời lại rất phức tạp, không có cái gì là đơn giản cả. Nếu mỗi mỗi đều phải để ý đến từng sự liên quan mật thiết các sự vật, thì nhọc trí là dường nào. Cho nên người ta bao giờ cũng tìm cách để giản lược bất kỳ vấn đề nào, đặng vừa thoả được lòng ham muốn đòi hỏi ý nghĩa sự vật, vừa thoả được cái óc đơn giản nghĩa là cái óc biếng nhác của mình. Sở dĩ các thuyết giáo mà được bành trướng dễ dàng là nhờ nó giản lược được tất cả vấn đề phiền rộn của nhân sinh. Bao nhiêu sự gì rắc rối không thể hiểu được hay giải quyết được thì mình cứ đổ trút vào “Ông Trời” là xong chuyện. Nếu mình không tin có “Ông Trời” thì kiếm lấy một cái gì khác bất cứ là “chế độ tư bản hay kinh tế tư bản” hay một cái gì…không cần cho lắm, miễn dùng được nó, để giải nghĩa được tất cả mọi sự là hay.

Những kẻ có cái tật suy nghĩ giản lược như thế không bao giờ trở nên nhà khoa học chân chính được. Trước kia, óc giản lược xui người cứ đổ dồn về một “Ông Trời”, bất kì điều gì khó nghĩ. nay thì có khác. Bàn cãi về Xã Hội, hoặc về các vấn đề quan trọng gì về con người…ta không còn có cái lối “đổ thừa” cho “Ông Trời” nữa, nhưng óc giản lược vẫn xui ta qui cả mọi việc vào một vài luật kinh tế. Giản lược thật là thái quá! Nhưng mà ở đây, sự sai lầm của ta chưa thấy liền sự tai hoạ. Hình phạt của ta, chính do sự không giải quyết được vấn đề hoà bình và hạnh phúc, và cũng không thể ra khỏi được cái “ao tù xã hội” (mare sociale) mà ta đang lội chập chững đó. Ta không bao giờ có thể giải quyết được những vấn đề nhân sinh nếu ta không theo gương cái nhà khoa học thực nghiệm mà xoá bỏ “cái óc giản lược” thái quá của ta đi…và phải “thể” theo sự vật chớ không bao giờ nên theo một ức thuyết rất đơn giản nào của ta mà bỏ qua những thực sự không ăn chịu với ức thuyết của ta. Chừng ấy, ta mới mong thấy đủ phương diện sự vật, và giải quyết nó một cách đầy đủ hoàn toàn không thiên lệch.

Một phần các thứ mê tín của quần chúng đều do lối luận như trên: họ thấy nhật thực, nguyệt thực hoặc sao chổi…rồi liền kế đó có bậc vĩ nhân chết, họ liền ráp hai việc ấy lại và cho cái có trước kia là nguyên của cái có sau, nghĩa là họ cho cái chết của bậc vĩ nhân kia do nơi nhật thực, nguyệt thực hay sao chổi mọc. Cũng như có nhiều người tin rằng: hễ chim ụt kêu là có tai nạn. Là vì một khi kia, trong nhà có người đau, ban đêm lại nghe chim ụt kêu. Sáng ra người ấy chết. Họ liền cho chim ụt kêu là nguyên nhân sự chết của người bệnh nọ. Hai hiện tượng khác nhau, xảy ra trong thời gian gần nhau, họ liền ráp “bướng” lại cho cái hiện ra trước là nguyên nhân của cái hiện ra sau. Luận như thế là luận “ngang” thái quá. Họ sao không nghĩ lại như vầy: nếu ụt không kêu người bệnh ấy chắc không chết được không, trong khi mạch lạc họ đã mất hết rồi? Và những người bệnh đã chết trong lúc ấy có lẽ cũng không phải có nghe ụt kêu trước mới đặng sao? Vả trong lúc ấy, trong thiện hạ chẳng lẽ chỉ có một người ấy chết mà thôi. Còn như đợi có nhật thực, nguyệt thực sao chổi mọc mới có bậc vĩ nhân chết, thời các bậc vĩ nhân trong thiên hạ đều chết trong một lúc với nhau cả hay sao? Hoặc mỗi ông phải đợi có sao chổi mọc mới chết đặng sao? Lại cũng có kẻ nhận thấy người kia có tang đến nhà người nọ, sau đó trong nhà người nọ bị tai nạn. Họ liền “ráp” hai việc đã xảy ra ấy làm một, và cho việc xảy ra trước là nguyên nhân của việc xảy ra sau. Nhân đó mới có câu mê tín này: “Người có tang đến nhà ai, nhà ấy bị xui suốt năm”.

Stuart Mill trong quyển Luận Lý của ông có cử ra một tỉ dụ đặc sắc này: “Nhận thấy nước Anh vừa bị nợ công trái thì nước Anh lại được trở nên phồn thịnh. Người ta bèn kết luận: “Nợ công trái là nguyên nhân của sự phồn vinh của xứ Anh”.

Người ta thường tưởng lầm rằng chỉ liệt cử được 5, 10 bằng cớ thuận với ức thuyết của mình là đã có đủ điều kiển để chứng nhận rằng ức thuyết của mình là đúng.

Ta nên biết rằng: “Những bằng cứ thuận, dầu nhiều đến bậc nào, cũng không chứng nhận gì được cả”.

Những nhà bán thuốc cao đơn hoàn tán của ta hay dùng đến cái lối luận này lắm: Họ đưa ra một mớ chứng thư của một số bệnh nhân đã dùng thuốc họ có công hiểu để tỏ rằng: thuốc ấy là thánh được. Họ quên hoặc không chịu đưa ra cho ta những bằng cứ “nghịch” lại, rằng thuốc ấy đã không cứu được hoặc đã lỡ giết bao nhiêu người rồi. Có khi họ chỉ đưa một bằng cứ thôi, do một người có tên tuổi để “thôi miên” lòng tín nhiệm kẻ khác. Những nhà buôn thường dùng lối luận này để quảng cáo mối hàng của họ.

Những người của một phe phái hay một lý thuyết nào cũng thường có cái óc thiên lệch ấy: Bất kì sự gì vật gì xảy ra mà trái với thuyết của mình đang thờ, mình không mấy khi để ý đến, hoặc có để ý đến rồi cũng mau quên, chỉ nhớ rất kĩ những điều gì xảy ra hợp với lý thuyết của mình thôi. Nếu cần phải đưa bằng cứ ra để chứng nhận thuyết mình, thì mình lại quên mất những việc đã xảy ra không “ăn” với thuyết mình, và chỉ nhớ những việc nào “thuận” với thuyết mình thôi. Bởi vậy, mình mới bị lầm lạc một cách hết sức vô tình. nhưng cũng có những kẻ hữu ý gạt bỏ những bằng cớ “bất lợi” cho lý thuyệt họ để lường gạt dụ dỗ người khác. Đó là hạng người “cố tâm” và thích sống trong sai lầm, không cần bàn đến trong quyển sách này.

So sánh không phải là luận cứ. Vậy muốn tránh cái sia lầm khi suy nghĩ hay lý luận bằng loại suy, ta cần để ý đến sự đồng tính của hai hiện tượng, nghĩa là, vật mình đem ra để so sánh cần phải đồng tính với vật mình đang muốn giãi bày. Vật chất ảnh hưởng tinh thần, như sự ảnh hưởng vật chất đối với tinh thần của loài người lẽ cố nhiên không thể đem so sánh với sự ảnh hưởng vật chất đối với tinh thần của loài vật.

Một sự, một vật mà ta không ao ước gì cả thì còn gọi là giá trị gì nữa. Cố nhiên là những cái chí ta ao ước thèm muốn nhiều, ta ban cho nó một cái giá trị cao. Muốn mà càng thấy khó đạt được mục đích chừng nào, thì vật ấy lại càng thêm đắt giá. Tỉ như, người vợ chưa cưới bao giờ cũng cao giá hơn người vợ đã cưới lâu ngày. Nếu người ấy lại là người nhiều kẻ gấm ghé như mình, thì cái giá của họ đối với ta lại càng gấp bội. Lấy một tỉ dụ khác về sự vật thường như cái nón, đôi giày cũng thế. Về kinh tế, ta thấy hễ những món đồ mà nhiều người ưa thích thì được bán giá cao. Món nào ta ao ước thì bao nhiêu cũng mua cho được, nhưng đến không còn thèm muốn nữa, thì có mất đi, cũng không biết tiếc. Bởi vậy, giá trị của sự vật cao thấp thế nào, chỉ do nơi lòng ham muốn của ta nhiều hay ít mà thôi vậy.

Đời sống càng ngày càng phức tạp: Ngành hoạt động trong xa hội phải phân chia ra, để cho mỗi phần được phát triển đến cực điểm. Nhưng đã là con người thời không thể nào hờ hững với những điều có dính líu đến con người cho được. Nhà khoa học, cũng không thể chỉ biết đến khoa học thôi, mà không thiếu gì đến triết học hay mỹ thuật. Muốn cho tư tưởng mình sáng suốt, phán đoán mình đúng đắn không thiên tư…thời phải “thông bác để giúp ích cho sự chuyên môn của mình”. Thử tưởng tượng một bác sĩ, chỉ xem xét mọi sự vật theo khuôn khổ của ngành chuyên môn của mình thôi, chỉ biết vịn theo một bản giá trị của nghề nghiệp mình mà phán đoán tất cả mọi sự vật ở đời ta sẽ nghĩ cho sự phán đoán của người ấy như thế nào? Hoặc một nhà đạo đức, chỉ biết vịn theo một bản giá trĩ rất cũ kỹ của luân lý Việt Nam mà phê bình tất cả luân lý các nước, luôn cả nghệ thuật văn chương của vạn quốc, thì người ấy như thế nào?

Hơn nữa, ta nên để ý rằng, bất kì là một việc phát minh nào, không bao giờ do một số đông người hợp lại mà tìm ra. Lập ra hội này hội kia là để cổ lệ, chớ phát minh sáng tạo là công việc riêng của từng người, của từng cá nhân trầm tư mặc tưởng trong yên lặng và tịch mịch.

Phán đoán theo sự thực, là phán đoán cận với sự thật. Một nhà triết học có nói: “Những tín ngưỡng của phần đông là mặt nước ao tù; còn những chân lý thênh thang của khoa học là mặt biển rộng lớn mênh mong kia”. Phán đoán theo giá trị, người ta chỉ phán đoán theo từng khu vực, theo từng quốc gia, theo từng đoàn thể. Còn phán đoán theo sự thực, người ta phán đoán ra ngoài cương giới của gia đình, của quốc gia, của dân tộc. “Khoa học không có quê hương”. Khoa học mà chỉ biết phụng sự cho quốc gia thôi, không còn phải là khoa học nữa. Tư tưởng theo khoa học, phán đoán là phán đoán mà biết đứng ở ngoài vòng của Bản Ngã.

Sướng khổ, bản tính nó là chóng tàn. Một điều gì gọi là sướng mà hiện diện mãi cũng hết sướng, mà một sự khổ liên miên rồi cũng thấy đỡ khổ rất mua, không còn thấy khổ nữa. Vì khổ mà thấy giảm bớt đi, lại thấy sướng sánh với cái khổ hồi trước.

Vui sướng mà thật là vui sướng, là khi nào nó bị gián đoạn mãi. Cho nên, chỉ có cái vui sướng nào mà ta chưa đạt được, mới có thể lâu dài mà thôi. Hễ thoả mãn được rồi thì hứng thú hay liền đó.

Người ta sở dĩ có sướng là nhờ so sánh với cái khổ. Nói đến một sự sung sướng thiên niên, là nói một điều vô nghĩa. Mạnh khoẻ mãi, làm sao biết được cái sướng của mạnh khoẻ. Chỉ vì có đau, mới biết được cái giá của sức khoẻ mà thôi.

Schopenhauer nói: “Ta đi giày hẹp đau chân. Cởi ra đi chân không, thấy sung sướng vô cùng. Cho nên đau khổ là điều kiện của sung sướng vậy”.

Vui sướng là một vấn đề tương quan luôn luôn tuỳ hoàn cảnh… Cái khổ ngày nay có thể là sướng đối với ngày mai. Cái sướng ngày nay biết đau rồi sẽ khổ đối với ngày mai. Đối với người ăn đã no óc ách rồi mà bắt đầu ăn thêm cơm nguội, là một sự khổ. Nhưng, cũng với người ấy, bỏ ba, bốn ngày không cho ăn, mà gặp cơm nguội, thì còn sung sướng nào bằng. Cái sướng của người này chưa ắt là cái sướng đối với người kia, nghĩa là cái sướng của người ngu, người trí lấy làm bực mình. Anh say rượu trong quán có cái sướng của anh, nó không giống với cái sướng của nhà văn sĩ viết xong một bài văn hay.

Ý Chí là chỉ về những điều ta quyết định thực hành. Ham muốn là những điều ta có thể chỉ nghĩ suông mà thôi…

Thói quen làm cho người ta bớt khổ, hoặc không thấy khổ nữa, và hễ phá mất thói quen đó, người ta lại thấy khổ như trước. Đi làm việc hàng ngày cực nhọc, được nghỉ một vài ngày là thấy sung sướng, nhưng nếu cho họ nghỉ lâu, họ sẽ đâm ra chán nản và nhớ lại cái đời sống vất vả ở công sở.

Nói về tính khí cá nhân cũng vậy, tuỳ tính khí, triết học của mỗi người tạo ra mỗi khác. Tính người lạc quan thì triết học của họ nhuộm màu lạc quan. Tính người bi quan thì triết học của họ nhuộm màu bi quan. Những kẻ thích yên tĩnh thì tạo hoặc ưa những lý thuyết nào có thể đem lại cho họ sự yên tĩnh. Những kẻ thích náo nhiệt thì hoặc tạo ra hoặc ưa những lý thuyết hoạt động. Bởi vậy, Phật Giáo hay Lão Giáo bao giờ cũng được những người có tính khí trầm tĩnh ưa thích. Những kẻ cố lấy lý luận của Khổng Mạnh mà biếm nhẽ, chê bai Phật Giáo hay Lão Giáo, cố làm cho người ta bỏ nó để theo mình, là những người mê muội nhất. Chẳng những lý luận của họ sai phép và sai lầm, họ lại còn sa vào cái vụng về của tâm lý nữa. Mỗi người đều tìm lấy một lý thuyết hạp với tính khí của mình để sống theo mình. Bởi vậy, muốn khuyến dụ người ta theo một học thuyết nào, phải biết tính khí họ như thế nào, và đem cái gì hạp với họ mà nói, thì mới mong được họ nghe theo mình thôi.

Những kẻ sở dĩ hay phân vân lưỡng lự trong những ý kiến hay tín ngưỡng của mình mà không biết phương hướng nào đi cả, chỉ theo những kích thích nhất thời rất trái nghịch nhau mãi…là tại họ không có lý tưởng nào ở trong đời hoặc có chăng, chỉ là một lý tưởng rất mơ màng yếu ớt mặc dầu có khi họ là một người thông minh và học giỏi. Người sống không có lý tưởng không khác con thuyền không lái, mặc tình cho sóng dập gió dồi, bấp bênh đến đâu hay đến đó.

Những mối cảm lúc ban đầu cần phải xem nó là những mối cảm không đáng tin cậy, luôn luôn cần phải kiểm tra lại. Tin càn tin theo nó mà không chịu xem xét cho cẩn thận lại, như ta thường làm, là tự dấn mình trong sự lầm lạc suốt đời. Nó chỉ bằng cứ nơi sự thương ghét nhất thời của ta mà thôi, chớ không theo một lẽ phải nào cả. Thế mà những quan niệm của ta về sự phải, quấy, thật, giả…lại toàn căn cứ trên những nền tảng mong manh ấy. Mỗi khi nghe ai khen ai, hoặc chê ai, phải coi chừng: Họ khen là vì họ thương, họ chê là vì họ ghét. Phải kiểm tra lại, đừng để mình bị lôi cuốn thoe sự thương ghét không căn cứ ấy.

Kinh nghiệm là bài học duy nhất để cho dân chúng biết tôn thờ sự thật và giúp họ phá những ảo vọng nguy hiểm ấy đi. Ta cứ giở ngay lịch sử ra thì rõ. Những kẻ bị nhiều thất vọng là những kẻ sành đời hơn người. Những nước bại vong thường là những nước tỉnh ngộ sớm hơn hết.

Một quả quyết mà được nhái đi nhái lại mãi, sẽ tạo thành một ý kiến ăn sâu vào đầu óc quần chúng, lâu ngày người ta sẽ tin rằng nó là một chân lý có đủ bằng cứ, không cần nghi ngờ gì nữa cả.

Muốn giữ được sự độc lập của tinh thần, phải biết sống một mình, suy nghĩ một mình, đem những dư luận đương thời mà phê bình gắt gao; đừng để cho phong trào lôi cuốn một cách vô tâm; đứng ngoài các luồng tư tưởng hay tình cảm mà mình xem là bạo động hay chưa đủ lý, và chỉ biết hành động theo sở kiến của mình mà không quan tâm gì đến ý kiến, dư luận của kẻ khác. Nói tắt là phải biết giải thoát ra khỏi những ảnh hưởng của xung quanh.

Ta có thể quả quyết một cách tuyệt đối rằng: Dùng lý luận không ảnh hưởng gì được quần chúng cả. Với quần chúng chỉ dùng đến Tình Cảm mới ảnh hưởng được họ mà thôi. Con người khi ở một mình nghĩ khác, mà khi ở trong quần đoàn thì lại nghĩ khác.

Gustave Le Bon nói: “Cá nhân mà ở trong quần đoàn thì chẳng qua là một hột cát trong các hột cát, bị lôi cuốn như chơi trong một cơn gió lốc”. Ông lại nói: “Một nhà thông thái mà đứng chung với quần đoàn, cũng không khác nào một anh dốt. Cả hai đều mất cả khiếu quan sát và phê bình”.

Đứng về phương diện luận lý, thì lý luận của quần chúng là một lối lý luận thô sơ đơn giản nhất.

Thuật hùng biện, tóm lại là thuật điều khiển nhồi nắn tâm lý của thính giả, nghĩa là điều khiển tính tình, khuynh hướng, sở thích hay lòng háo ố…chớ không cần phải điều khiến đến trí não họ.

Hiền giả xưa thường khuyên ta coi chừng những kẻ “khéo lời già miệng”: “Chân lý phải có một lối nói đơn giản mà không cần khéo léo”, “lời nói đáng tin, không đẹp; lời đẹp không đáng tin”,…thật không phải là không có lý do vậy.

Người ta thường tưởng: Hễ là một bậc thông thái thì không thể suy nghĩ lầm lẫn được nữa. Tin tưởng như thế là lầm. Một kẻ thường mà ít dục vọng, lương tri của họ còn sáng tỏ hơn một bậc thiên tài mà bên trong đầy ham muốn. Câu ngạn ngữ: “Chuyện người sáng, chuyện mình quáng”, thật có đúng như vậy.

Học biết rộng nhưng thiếu chuyên môn, đó là học để tiêu khiển, không thể ứng dụng được một cách rõ ràng. Trái lại chuyên môn mà thiếu học rộng thì sự hiểu biết hẹp hòi, phán đoán thường sai lầm mà cũng không tinh tấn gì được nữa. Có vừa một cái học rộng rãi vừa một cái chuyên môn là một điều rất cần thiết cho bất kỳ kẻ nào muốn hiểu biết một cách chính đính, dầu ở trong ngành hoạt động nào.

Tuy nhiên, hiểu biết không phải chỉ thu trữ được rất nhiều sự hiểu biết của kẻ khác, mà chính nhờ sự quan sát suy nghĩ riêng của mình. Ta cũng nên biết rằng, dầu là ở nơi học đường hay nơi công xưởng không bao giờ ai dạy mình được tất cả mọi việc, không thể dạy được. Chỉ có làm lấy, rồi thì vừa học vừa tìm ra những cái bí quyết của việc làm của mình thôi. “Có rèn, mới trở nên anh thợ rèn”. Có viết văn, có làm sách thời mới biết được cách làm nhà văn, nàh trước thuật.

Ngạn ngữ có câu: “Biết thời thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Nếu không biết mà cứ nói càn, nói bướng, là nói sai, nói bậy. Lắm kẻ phê bình học thuyết này, bài bác học thuyết kia, cổ võ học thuyết nọ…mà chính mình cũng chưa hiểu rành rọt học thuyết ấy. Một nhà triết học có nói: “Phàm muốn phê bình một học thuyết nào, điều kiện đầu tiên, là phải vào trong nó, và điều kiện kế đó là phải ra khỏi nó”. Điều kiện đầu tiên, khuyên ta nên thật biết rõ học thuyết ấy bằng cách nghiên cứu tận tình, còn điều kiện kế đó khuyên ta nên ngừa sự thiên lệch của tình cảm một khi mình ưa thích nó. Câu này, cần phải lấy nó làm câu châm ngôn vàng ngọc, ghi sâu vào tâm khảm.

Hiếm vụ án mạng mới nghe qua thật là hết sức tàn nhẫn, thế mà khi ta thấy được rõ những tình tiết bên trong, ta không khỏi đem lòng trắc ẩn mà dung thứ.

Trái lại, ở đời, hiếm kẻ không biết gì cả, thế mà không một vấn đề gì là không có họ phê bình tới: Họ bàn chính trị, kinh tế, giáo dục…, như họ bàn đến những vấn đề của nghề nghiệp họ. Mình nên tránh những người ấy cho xa là hơn.

Lắm kẻ vì quá ham mê sự vui chơi, cờ bạc rượu chè; hoặc vì biếng nhác nên họ rất ghét đọc những sách nghiêm trang như sách học, sách nghiên cứu…mà chỉ thích những cái gì nhảm nhí để mua vui, khỏi suy nghĩ. Bởi vậy, dầu họ là bậc thông minh, có tiền của, nghĩa là có đủ điều kiện để có được một óc phán đoán tinh vi sáng suốt bậc nào, họ cũng vẫn tối tăm dốt nát nhưng những kẻ bạc phúc nói trên. lẽ cố nhiên, là khi nào họ cần phải suy nghĩ, họ suy nghĩ theo kẻ khác, theo phần đông, theo thành kiến, theo tập tục… Họ là kẻ có những tư tưởng nô lệ bạc nhược.

Những kẻ có đủ tiền bạc, nhàn rỗi, thông minh, thế mà lại cam bó mình trong sự dốt nát tối tăm được, thật là một điều hết sức tủi nhục cho cái kiếp sống con người. Chỉ vì họ thiếu Ý Chí, thiếu Lý Tưởng, thiếu cả thể thống con người. Những kẻ đui mù thế nào rồi cũng phải để cho kẻ sáng mặt họ dắt dìu. Kẻ nào trí não mờ ám tối tăm, chắc chắn bao giờ cũng sẽ là những kẻ làm tôi mọi cho kẻ khác không sai, vì họ là kẻ phải ỷ lại luôn luôn vào kẻ khác để suy nghĩ hay quyết đoán.

Ta cũng nên để ý đến thế lực của một kẻ có đại danh đối với tự phán đoán của con người. Kẻ có uy danh, lời nói họ có quyền thế to tát không biết chừng nào… Một Jesus, một Thích Ca, một Khổng Tử, hay một Lão Tử hay một K.Mars…lời nói của mấy bậc ấy là một quyền thế thiêng liêng bất khả xâm phạm đối với đầu óc của một số đông người. Về thế lực nó như thế nào, đã có bàn qua trước đây, không cần lặp lại chi nữa.

Muốn tư tưởng cho đúng đắn, trước hết cần phải biết rõ cái điều mình nói và để ý thật kỹ đến sự dùng ngôn ngữ cho được thích đáng. Những câu văn hàm hồ hay không định nghĩa, là một trong nhiều nguyên nhân gây lắm sự sai lầm cho tư tưởng.

Dùng chữ, phải coi chừng đừng dùng chũ cũ với một nghĩa mới. Ta thường tưởng lầm rằng mình tha hồ muốn dùng chữ gì thì dùng, miễn mình đừng quên định nghĩa nó lại theo cái nghĩa riêng mình muốn dùng là được. Sự thật đâu có dễ dàng như thế. Ta quên rằng một chữ mà đã dùng quen lâu đời, nó không khác nào một cái cây, gốc rễ đã ăn sâu vào tiềm thức của con người rồi, dầu có định nghĩa nó lại cẩn thận đến đâu, cũng không làm sao thay đổi được sức khêu gợi của nó. Các nhà triết học, vì thiếu chữ, nên thường dùng những chữ trùng với cái nghĩa của phần đông đã dùng để biểu diễn một ý tưởng sâu sắc hơn hoặc thiển cận hơn. Mặc dầu họ đã không quên định nghĩa lại những chữ họ dùng theo nghĩa mới của họ, họ vẫn làm cho độc giả hiểu lầm họ mãi. Vậy đọc sách triết học, kẻ đọc sách có phương pháp, bao giờ cũng lo tìm hiểu cái định nghĩa riêng biệt về danh từ của mỗi triết gia trước hết. Những kẻ cẩu thả, cứ hiểu theo cái nghĩa thông thường là hiểu cái xa với nguyên ý của tác giả. Tỉ như, cũng thời chữ “cách vật” mà Châu Hi hiểu khác, Vương Dương Minh hiểu khác. Đọc sách Vương Dương Minh mà không để ý tìm hiểu trước cái định nghĩa riêng biệt của những chữ thường dùng của ông, là không thể hiểu ông được, vì chữ ông dùng tuy toàn lấy trong Đại Học, nhưng cái nghĩa của ông muốn nói thì lại khác với cái định nghĩa của Đại học theo Châu Hi, nghĩa là theo phần đông học giả theo cái học truyền thống. Cũng như đọc Lão Tử, mà không rõ được cái định nghĩa những chữ thường dùng của lão Tử, như Vô Vi, Tự Nhiên, Thiên, Đạo, Đức,…thì không bao giờ hiểu được Lão Tử hoặc có tự cho là hiểu đi nữa, thì chắc chắn là hiểu sai rồi. Vì chữ của Lão Tử dùng không cùng một nghĩa với đồng thời. Và cũng vì lẽ ấy mà Lão học là cái học người ta thường hiểu lầm hơn hết. Tôi thấy có lắm học giả nước ta còn lầm tưởng Lão học là cái học thần quyền, vì họ hiểu lầm chữ “Thiên” của Lão Tử là chỉ về đấng Thượng Đế của phái thần quyền.

“Chỉ có những vấn đề có thể giải quyết được mới có thể giải quyết được”.

Những công việc làm hư hỏng, thường xảy ra do nơi một trong những trường hợp sau này

  1. Hoặc vì không tôn chỉ, không lý tưởng, không có một ý tưởng gì về tương lai cả.
  2. Hoặc vì đối với công việc mình làm, mình thấy có cái lợi gì để kích thích lòng ham muốn của mình trong công việc.
  3. Hoặc vì mình thiếu kiên nhẫn. Biết bao kẻ đã phát minh ra lắm điều hay, thế mà rồi nửa đường lại bỏ, vì thiếu kiên nhẫn: hễ gặp có điều gì khó khăn là vội chán nản.
  4. Hoặc vì họ thiếu quyết định cho lẹ làng. Ta nên biết: trong mỗi công việc làm nào cũng có những cơ hội tốt qua rồi không trở lại. Nếu thiếu quyết định cho lẹ làng, là bỏ hoảng cơ hội tốt mà hỏng luôn cả việc;
  5. Hoặc vì thiếu phương thế để thực hành ý nghĩ của mình. Biết bao nhà phát minh sáng tạo vì thiếu tiền bạc, thiếu thế lực, thiếu cả tư cách tài năng để làm cho kẻ khác tin mình và ửng hộ mình…nên không sao thực hành được công việc mình đã sáng kiến;
  6. Hoặc vì làm biếng, không đủ nghị lực để lợi dụng tất cả những phương thế sẵn có của mình.
  7. Hoặc vì siêng năng, mà lại làm việc không phương pháp, thiếu trật tự trong công việc làm, cho nên làm nhiều mà kết quả ít, hoặc không có kết quả gì.
  8. Hoặc vì thiếu tập dượt hay tập dượt sơ sài hối hả nên không hiểu rạch ròi công việc của mình làm, nhất là không tuỳ theo những điều kiện vật chất và kinh tế mà làm càn.

Những ai muốn tránh sự thất bại cần phải để ý kĩ những yếu tố trên. Thiếu hoặc sơ sót một trong này mà có bị thất bại trên đường đời đừng có đổ thừa cho sự “hên xui của số mạng”.

Phương pháp làm việc của thống soái Foch chỉ quan hệ trong câu” Việc gì đây?”, mà bất kỳ là đứng trước một vấn đề gì, ông tự hỏi liền trong trí. Để chi? Để tìm cái chính đề, và giải quyết liền vấn đề ấy trong phạm vi nó, không hoang mang lẩn quẩn theo những việc ngoài đề.

Trong khi đeo đuổi một vấn đề gì, người ta thường hay bị xao lãng theo những điều không ăn chịu vào đề, thành ra bị lôi cuốn vào những chuyện không đâu mà quên mất cái cốt yếu của vấn đề mình đang giải quyết. Câu châm ngôn của thống soái Foch mới xem thật là giản dị và tầm thường, nhưng nếu đem nó ra thực hành, sẽ thấy nó là một phương pháp tuyệt hay để tránh sự sai lầm trong khi cần phải giải quyết một vấn đề gì.

Andre Landande bàn về thuật tư tưởng, khuyên ta cần phải để ý đến vấn đề này trước hết. Ông bảo đại khái như vầy: “Con dao sở dĩ cắt được dễ dàng là nhờ cái lưỡi của nó: Bao nhiêu sức mạnh của cái cán, của cái sống dao đều qui vào một chỗ lưỡi rất mỏng ấy, nên mới cắt được rất dễ dàng. Tư tưởng sở dĩ được đúng đắn, theo tôi nghĩ, dầu là ở trong phạm vi triết học hay thực dụng, là do nơi sự qui tụ tất cả ý tưởng vào một điểm đặc biệt nào. Tức là cái khiếu biết phân biệt được cái nào cần thiết, và biết duy trì nơi chỗ đó mãi, không chịu ra khỏi đó, nghĩa là phải biết hi sinh, hi sinh những cái gì không cần thiết đến vấn đề mình đang nghiên cứu…

Tư tưởng đúng là phải biết buộc mình tuân theo vấn đề nghị sự và phải biết hy sinh tất cả những vấn đề khác không ăn chịu với nó, mặc dầu là những vấn đề rất trọng hệ hơn, rất hứng thú hơn…

Nói thế, không phải bảo mình có đầu óc hẹp hòi, thiên kiến khi giải quyết một vấn đề gì. Hạn định một vấn đề vào một phạm vi rõ rệt, đâu phải là bảo giải quyết nó một cách thiên lệch hay thiếu thốn. Có một đầu óc hẹp hòi một việc, mà giải quyết một vấn đề trong phạm vi nhất định của nó lại là một việc khác. Ta không nên lẫn lộn hai điều ấy.

Thật vậy, sở dĩ có một đầu óc sai ngoa là tại họ thiếu nghị lực để phản động lại với dục vọng, với tính dễ dãi, cẩu thả biếng nhác… Không phải học cho nhiều, nhớ cho giỏi hoặc có nhiều kinh nghiệm là cần thiết cho sự phán đoán của mình được chính đính mà quyết là nhờ nơi sự huấn luyện ý chí, nghĩa là nơi sự chính đính về tinh thần trước hết.

Nếu chúng ta chỉ phê phán về những điều mà trong đó chúng ta không có một mảy tư lợi gì có, có lẽ sự phê phán của chúng ta sẽ không sai với nhau là mấy. Tuy nhiên, đó chỉ là một ức thuyết thôi, chớ kỳ thật, làm sao lại có được một vấn đề ta để ý suy nghĩ đến, mà nó lại dửng dưng không có một mảy may lợi hại nào đối với ta? Nhà tâm lý học nói rất chí lý: Ta suy nghĩ với tất cả tính khí của ta. Những kẻ có tính công bình, ngay chính thì tư  lợi của họ không đủ làm chủ được họ, nên sự phán đoán của họ được vô tư hơn, đúng đắn hơn. Trái lại, kẻ có tính dục lợi tham danh, bất công bất chính thì tư lợi của họ đúng trên hết mọi sự, phán đoán của họ tất nhiên thiên lệch sai lầm. Đó cũng là một lẽ cố nhiên vậy.

Óc sai ngoa hay qui nạp một cách liều lĩnh hết sức. Nhận thấy một vài người đi học bên Pháp về mà tư cách không tốt, họ bèn kết án chung tất cả những người đi du học bên Pháp về đều là những kẻ tư cách không tốt. Bị một người Tàu lường gạt họ bèn đâm ra ghét cả người Tàu, cho họ là giống ngườ dối trá cả. Nhân một vài nhà sư dối đời họ bèn phê bình Phật học là giả dối không đáng.

Tôi biết có một vị quan toà, có tính biếng nhác, nhưng ông lại có tính rất công bình chính trực. Một khi kia, vì lười biếng cẩu thả, xem xét một vụ án mạng không chu đáo nên đã kêu án oan cho một người vô tội. Ông lấy làm đau đớn vô cùng, lương tâm ông dày vò ông suốt đêm ngày… Từ đó về sau, ông nguyện không bao giờ cẩu tha trong khi xét đoán nữa. Ông nhờ tấm lòng tôn thờ công lý mà trừ được ngay cái bệnh cẩu thả trì độn của ông. Cho hay, chỉ có kẻ biết ham chuộng công lý và chân lý là có thể suy nghĩ phán đoán đúng đắn mà thôi. Người công bình rủi mà phán đoán sai, nghi lầm bạn cộng tác hay kẻ dưới tay mình, họ thấy trong lương tâ như có điều chua xót tội lỗi vậy. Trái lại, kẻ thường có tính bất công, họ có cần thận trọng làm gì trong khi phê phán, dẫu họ có nghi oan cho ai cũng mặc… Lương tâm họ đã bế tắc rồi, cố nhiêu dầu họ sai ngoa chỉ vì họ quen sống trong sự bất công, chớ không phải họ không biết cách lý luận cho chính đính. Vậy chớ ta không thường thấy, có nhiều bậc thông thái mà khi phê phán, đầu óc họ vẫn sai ngoa như kẻ ngu phu ngu phụ kia sao? Là bởi họ để tư lợi tư dục nằm trên tấm lòng yêu sự thật của họ. Tóm lại, nếu muốn chính đính tư tưởng của mình, cần phải chính đính tâm tính mình trước đã.

Kẻ phán đoán đúng đắn hơn hết, không phải là kẻ thông mih hơn hết, cương quyết hay giàu tình cảm hơn hết, mà chính là kẻ biết phải trái, mực thước hơn hết va bình tĩnh hơn hết. Một tâm trí điều hoà là điều kiện cần thiết nhất để phán đoán được đúng đắn. Ít lắm cũng phải la người hết sức thành thực ham lẽ Công Bình trên hết mọi sự mới đặng. Điềm Tĩnh và Vô Tư là những đứct ính đầu tiên và là nền tảng của tất cả những ai muốn có một phán đoán không sai lầm.

Tính tự nhiên của con người là hay tin điều kẻ khác thuật lại. Vậy chớ ta không thấy, hằng ngày, bất kỳ là câu chuyện gì của ai thuật lại, ta tin theo một cách dễ dàng không đòi hỏi một bằng cứ gì cả hay sao? Trừ khi nào tin tức ấy quan hệ đến quyềny lợi ta nhiều, ta mới chịu để ý phê bình, bằng không, nếu câu chuyện ấy không đến ngớ ngẩn hay phi thường, thì ta nhận nó ngay, lại còn đem thuật lại cho kẻ khác nghe và có khi lại tô điểm thêm cho nó có duyên hơn là đằng khác. Bất kỳ là người nào thành thật với mình đều phải công nhận rằng, mình thường hay lười biếng cẩu thả như thế. Bởi vậy phê bình không phải là tính tự nhiên của con người. Ta cần phải tập luyện nó, lâu ngày mới thành thói quen được.

Phần đông con người có tính hay thuật lại một câu chuyện không phải y như nó đã xảy ra mà là theo cái ý tưởng tượng, muốn nó phải xảy ra như thế nào mới thú vị cho, và họ lại chịu tin như thế hơn. Vì theo họ, có xảy ra như thế ấy, mới có nghĩa lý và thi vị hơn. Phần nhiều, những “tiếng nói lịch sử” đều toàn do trí tưởng tượng của nhà viết sử mà ra. Họ “tiểu thuyết hoá” hay “thi vị hoá” tất cả mọi sự của họ nghe thấy.

Chúng ta thường xem sự vật ở đời theo như lòng sở nguyện của ta muốn cho nó phải xảy ra như thế nào, hoặc thoe như ta quen thấy nó đã xảy ra. Nếu trái lại, nó xảy ra không theo ý muốn của ta, thì ta lại cưỡng ép nó phải chiều theo ta, nghĩa là ta giải thích nó theo những điều ta đã quen thấy, chớ không chịu thoát khỏi cái tâm lý eo hẹp của ta, để độ hiểu hành vi của kẻ khác. Bởi vậy, những câu chuyện của những nhà du lịch kể lại thường không bao giờ đúng vơi sự thật, hoặc vì họ gặp phải tâm lý các dân tộc không giống với tâm lý họ, nên họ không hiểu được.

Những tài liệu mà tác giả đem lại cho ta, nếu không phải là những món tài liệu “sốt dẻo” chép lại liền sau khi quan sat hay mục kích, mà là dùng Trí Nhớ chép lại sau một thời gian lâu, tất nhiên ta phải đề phòng. Ta dư biết rằng: Trí nhớ của ta không thể nào tin cậy được, vì nó biến đổi rất dễ dàng và mau chóng. Bởi vây, những thiên bút ký trong đó tác giả thuật lại những việc làm lúc nhỏ…không thể trọn tin được.

Theo luật chung thì nếu hai chứng cứ mà giống hệt với nhau, ta mới có thể cho rằng chứng cứ chép theo chứng cứ kia, vì dầu là hai người cùng đứng trước một việc, khi thuật lại, địa thể tuy giống nhau, chứ chi tiết bao giờ cũng có một đôi chỗ không giống nhau. Thử tưởng tượng trước mặt toà mà hai người chứng thuật lại câu chuyện hệt nhau, từ đầu đuôi câu chuyện tới câu cán cũng rập như khuôn, thì ta phải nghĩ cho họ như ăn ý với nhau mà trả một bài thuộc lòng vậy thôi.

Trái lại, nếu nhiều người không cùng một phái, không cùng một lý tưởng…lại đồng thanh chứng nhận một việc, thì việc đó đáng tin hơn hết, vì vô lý mà thiện hạ cả một thế hệ đều ăn ý với nhau để lừa gạt mình.

Trong đời sống hằng ngày, bất kỳ là một cái tin gì mà kẻ khác đem đến cho ta, ta cần phải đem nó ra mà phê bình một cách gắt gao mới được, nhất là những câu chuyện thiên hạ đồn đãi, hoặc nhưng tin tức lượm lặt của báo chí đưa đến cho ta.

Trong khi bàn cãi một điều gì, mình không nên bao giờ có thiên kiến rằng ý kiến mình là phải mà của người ta là quấy. Nếu mình vì chân lý mà bàn cãi, thì hãy biết tìm sự thật trong những lý lẽ bên nghịch để bổ khuyết cho ý kiến của mình. Dầu địch thủ của mình có thiên kiến đến bậc nào, công kích mình đến đâu, họ cũng giúp mình thấy được chỗ yếu của mình, vì chỉ có kẻ nghịch mình mới thấy rõ chỗ yếu của mình thôi. Bạn thân của mình vì quá thương mình, khó thấy được chỗ dở của mình. Bởi vậy mới có câu ngạn ngữ: “Kẻ nghịch ta, là Thầy ta”. Bàn cãi với nhau, bao giờ cũng có lợi cho hai đàng. Nếu hai bên đều có giữ lấy phần giải cho mình, và không chịu hiểu nhau, thì bàn cãi với nhau chỉ là một việc rất vô ích, cần phải tránh xa mới được.

Đừng bao giờ sợ những tư tưởng đối chọi với tư tưởng của mình. Đọc sách, tôi thường ưa đọc những sách phản đối những tư tưởng tôi thích, ngược với chiều tư tưởng thường lệ của tôi. Nhờ vậy, tôi nhận nhiều phương diện bất ngờ của chân lý.

Muốn tư tưởng mà ít sai lầm, đừng bao giờ chịu làm “độc giả của một tờ báo” mà thôi. hãy đọc nhiều tờ báo khác nhau, nhất là những tờ báo nghịch nhau, để nghe được nhiều tiếng chuông. Có được như thế thời mới có thể mong thấy đặng ít nhiều phương diện của sự thật.

Chỉ có kẻ nào có một tánh khí quân bình, tâm tính hiền hoà, có kinh nghiệm, có học vấn và biết đem cả tâm hồn mình phụng sự chân lý, thì ý kiến của người đó mới có thể xem là cận với sự thật được.

Người trí, thì quá chỗ trung” (Trung Dung).

Thận trọng trong sự phán đoán là cần thiết, mà rụt rè đến không dám quyết đoán, thời là một điều thái quá không nên có. Tư tưởng là để quyết đoán; không ai chỉ tư tưởng đến tư tưởng mà thôi, Không dám quyết đoán để tránh sai lầm thời có khác nào không dám ăn dám thở nhàm tránh ăn nhầm vi trùng, thời nhằm hơi độc. Làm thế là tự giết tinh thần của mình. Có dại mới có khôn, có bại mới có thắng, không nên quá lo ngại đến rụt rè không dám quyết đoán gì cả trong khi ta cần phải quyết đoán.

Khoa học, kĩ nghệ tiến bộ lạ lùng, nhưng trái lại, tinh thần ta không tiến được bao nhiêu cả, lại thối bộ là đằng khác nữa. Như xe hơi, xe điện, xe lửa, máy bay, đi thế cho ta hết rồi ta hết biết đi bộ nữa. Mấy móc làm thế cho ta tất, cả, riết rồi ta hết biết làm việc nữa. Những nghiệp đoàn, báo chí, tôn giáo…tư tưởng thế cho ta rồi, riết ta cũng hết biết tư tưởng nữa. nghiệp đoàn thì tư tưởng thế cho thầy thợ, báo chí thì tư tưởng thế cho độc giả của nó. Những điều ta cảm hay suy nghĩ đều do bên ngoài đúng sẵn sàng cho ta tất cả: Ta chỉ còn là một cái máy truyền thanh mà thôi.

Nói thế không phải muốn bảo ta đừng đế ý đến ảnh hưởng bên ngoài-mà chính là khuyên ta đừng để ảnh hưởng bên ngoài sai tư tưởng mình như một cái máy-ảnh hưởng bên ngoài chỉ để giúp ta tư tưởng, không phải để làm cho ta mất tư tưởng.

Đọc mãi một tờ báo hay một thứ sách nào, ta sẽ bị nó “thôi miên” không sai. Trái lại, nếu đọc nhiều tờ báo khuynh hướng khác nhau hay nghịch nhau, giúp cho mình tư tưởng rất hay, phán đoán rất đúng. Nhờ đó, mình so sánh cân nhắc, rất dễ thấy sự thật.

Ta nên nhớ kỹ điều này: Có hai cách đi tới chân lý, là:

  1. Bàn cãi với kẻ khác, hoặc với mình; và
  2. Hành động để thí nghiệm

Tư tưởng mình sở dĩ được rõ ràng hơn, là nhờ so sánh với tư tưởng kẻ khác. Nhờ có trao đổi ý kiến với nhau, mà tư tưởng con người tiến được mau lẹ. Bởi vậy, giúp mình tư tưởng không gì hay hơn đọc sách.

Thuật đọc sách tức là thuật tư tưởng đó.

Dù là bậc thông minh đến đâu, cũng nhờ đọc sách mà kiến văn ngày một thêm rộng. Đọc sách có lợi cho đường tư tưởng mình thế nào, cái đó khỏi cần nói, ai ai cũng nhận biết. Những bậc vĩ nhân trong tư tưởng giới, phần đông đều nhân đọc một quyển sách nào đó của cổ nhân mà nghĩ ra được nhiều tư tưởng hay lạ khác. Một câu sách, hoặc một quyển sách đọc xong, có khi đổi cả một đời tư tưởng của ta. Cái đó thường lắm.

Sách giúp ta suy nghĩ, chỉ cho ta khỏi phải tốn công tìm kiếm một điều gì khác đã tìm ra được trước ta. Đó là đỡ bớt cho ta một sự phí công vô ích. Ta cần phải sức để tìm thêm cái mà kẻ khác đã tìm, và nhân đó làm cho nó thêm sáng tỏ hơn. Hoặc nó cũng chỉ cho ta một điều gì mà thiên hạ đang tìm nhưng tìm chưa ra. Ít ra, nó chỉ cho ta biết vấn đề đã phát ra như thế nào, và người ta đã giải quyết nó như thế nào, hay người ta đã tìm nó tới đâu rồi.

Xem tận mắt mình hơn hơn xem bằng sách, ai lại không biết như thế. Nhưng, những điều ta có thể quan sát được sao có thể sánh kịp với những điều sách vở để lại, vì nó tám cho ta biết bao nhiêu thế kỷ suy tìm và kinh nghiệm, mà nếu ta phải tự mình tìm lại, có khi không biết phải bao nhiêu là công phu…, mà nhất là ít ra phải có tuổi thọ gấp trăm ông Bành Tổ mới đặng.

Muốn đọc sách để bổ ích cho đường trí thức của mình, cần phải biết cách đọc sách. Có nhiều kẻ đọc sách luôny luôn mà rốt cuộc không ích lợi gì cho đường trí thức của họ cả. Họ không biết cách đọc sách. Trong túi luôn luôn là đầy sách báo, hễ vừa ngồi xuống, bất luận là ở trên xe hơi đò hay toa xe điện, ta thấy họ mở sách báo ra mà đọc. Họ đọc tiểu thuyết, đọc tin tức vụn vặt hàng ngày, cho đến những cột quảng cáo cũng không bỏ qua. Sách ở thư viện, họ đọc gần hết, nhưng họ không hiểu họ đuọc những gì, cũng không rõ tên tác giả là ai. Juiles Payot nói: “Đọc sách là một cách lười biếng nguy hiểm nhất, bởi kẻ làm biếng mà ở không nhưng, họ sẽ thấy khó chịu với lương tâm. Trái lại nếu họ có đọc sách, họ tin rằng họ có làm việc và nhân thế mà cái bệnh lười biếng của họ không còn thế nào trị được nữa.” Lối đọc sách này, chỉ một cách phí thời giờ mà thôi; nếu ta thành thực với ta, ta sẽ thấy sau một tuần lễ, ta không còn nhớ gì nữa cả.

Trước hết đối với quyển sách, cần phải dành cho nó một tấm lòng thiện cảm và đầy hi vọng…

Trước khi phê bình một quyển sách nào, phải để chút lòng hi vọng và tin cậy nơi đó. Là vì, một kẻ viết sách, dầu có dở đến bậc nào, cũng đã lao khổ nhiều với tác phẩm của họ. Thế nào họ cũng bỏ nhiều thời giờ nghiền ngẫm suy nghĩ với viết ra. Thật cũng đã lao tâm khổ tứ trong đó không phải ít. nếu trước khi đọc nó, mà mình có ác ý, là tự mình bỏ mất một cơ hội tốt. Biết đâu, trong khi cùng “âm thầm đàm luận” với quyển sách ấy, nó không gợi cho mình nhiều ý nghĩ hay hay.

Đọc sách, là nuôi dưỡng trí não tinh thần. Cũng như đồ ăn vào bao tử mà tiêu hoá được là nhờ các chất tiêu hoá dịch; những điều hiểu biết mới mà mĩnh đã thu nhập được nơi sách vở, sở dĩ bổ ích được trí não tinh thần mình là nhờ mình so sánh đối chiếu với sự hiểu biết của mình đã có trước. Hễ mình đã hiểu biết được nhiều chừng nào thì đọc sách sẽ được bổ ích chừng nấy. Một quyển sách mà mình thích đọc là vì nó với mình có nhiều chỗ cảm ứng, liên lạc mật thiết với nhau.

Đọc sách mà tin cả sách, hoặc đọc sách mà bất cứ là câu nào cũng phản đối…đó là hai cử chỉ không nên có của một người đứng đắn.

Văn dịch, nếu dịch hay cũng chỉ đem lại cho ta một phần ba cái ý vị của nguyên văn. Bởi vậy, nếu muốn đọc sách một cách đúng đắn, cần phải đọc chính văn.

Đừng bao giờ tìm mà hiểu biết một người bằng lời giới thiệu của một kẻ thứ ba. Sự ưa ghét bao giờ cũng thiên lệch. Dầu có đọc sách nghiên cứu đi nữa, mình cũng nne6 để nó lại một bên và tìm chính văn mà đọc.

Jules Payot nói: “Nếu cho tôi được sống lại cuộc đời của tôi, tôi tự thệ trong lúc trẻ tuổi chỉ đọc ròng sách hay, do những bậc vĩ nhân trong tư tưởng giới viết ra mà thôi. Tôi đã mua rất mắc cái kinh nghiệm đã qua của tôi khi còn nhỏ, làm phung phí sức của tôi rất vô lối vì những quyển sách vo giá trị. Nếu anh em muốn có một tương lai tốt đẹp về tinh thần, hãy nghe theo tôi, đừng bao giờ đọc sách nhảm…”

Một quyển sách được gọi là hay, khi nào ta đọc đi đọc lại nó chừng nào, càng thấy nó sâu xa rộng rãi chừng nấy. Một quyển sách mà tháng này đọc thấy hay, qua tháng sau đọc bớt hay hoặc hết hay, là một quyển sách tầm thường. Trái lại, quyển sách hay thì bao giờ đọc cũng thấy hay, dầu cho một tháng nữa, hoặc ba tháng, sáu tháng nữa đọc cũng thấy cao thâm man mác. Sách đó là hay vậy. Trình độ mình càng lên cao chừng nào thì đọc nó, càng thấy trí não tinh thần mình rộng thêm chừng nấy, ấy là loại “sách vô tận”. Cần lựa những sách ấy làm sách “gối đầu giường”.

Sách hay không cần luôn luôn phải là “Sách vô tận” mới được. Những quyển sách khêu gợi được cho ta nhiều ý nghĩa mới lạ, dầu ta không nhận tư tưởng của tác giả, ta cũng không sao tránh khỏi bâng khuâng, hoặc trong nhất thời đưa đến cho ta những vấn đề mà xưa nay ta chưa từng để ý đến, đều là những thứ sách làm giàu thêm cho ta về tài liệu và kinh nghiệm. Sách ấy cũng được xem là sách hay.

Đọc đi đọc lại nhiều lần, chẳng phải để cho dễ nhớ mà là bởi có nhiều thứ sách khó đọc: nếu chỉ đọc qua một bận không bao giờ hiểu được. Có khi đọc đến lần thứ ba, thứ tư mới hiểu được.

Đọc lần đầu, để tìm phương hướng; đọc lần sâu để hiểu nó. Đừng nói là đọc lần thứ nhì, có loại sách đọc đi đọc lại ba bốn lần mà nghĩa nó vẫn mờ tối mãi. Nhưng thế nào thì mình cũng đã biết đại cương và phương hướng của nó rồi, những chỗ mờ tối ấy thủng thẳng lâu ngày rồi cũng có khi hiển lộ ra. Ta nên biết rằng câu văn của nhà đại tư tưởng thường rất vắn tắt mà hàm súc lắm. Kinh nghiệm của ta còn ít, tư tưởng của ta còn nông…muốn hiểu hết ý nghĩa của nó, phải cần đến thời gian. Không phải họ cố ý làm cho tư tưởng họ mờ tối làm chi. Chỉ vì họ có rất nhiều tư tưởng phải nói bới ra, hiềm vì họ phải dùng đến một thứ tiếng tầm thường, không thể nào biểu diễn hết ý nghĩ của họ đặng. Chính ta đây, ai ai cũng đã từng kinh nghiệm lẽ ấy. Dầu là một nhà văn đại tài đã làm chủ được ngòi bút của mình đi nữa, cái chỗ thâm sâu của tấm lòng, họ cũng không thể truyền vào câu văn cho hết được. Lời không bao giờ tận được ý. Đọc sách cần phải độ tới cái chỗ không nói được đó, thời đọc sách mới tinh thông.

Cũng như làm bạn thì nên làm bạn với những kẻ cao hơn mình về tài đức: đọc sách, ta nne6 đọc những quyển sách cao hơn trình độ tư tưởng của mình, nhiên hậu ta mới mong mau tiến bộ trên con đường trí thức.

Gặp những sách hay, đừng bao giờ đọc nó như đọc tiểu thuyết, tới đâu hay tới đó… Ta nên biết rằng sách hay về tư tưởng, bao giờ trong đó cũng đề cập rất nhiều vấn đề. Vậy không cần biết tất cả các vấn đề trong đó làm gì. Cứ lấy riêng ra một vấn đề tự hỏi, và tìm coi cách giải quyết của tác giải đối với vấn đề ấy như thế nào? Cách giải quyết của tác giả có hợp với quan niệm của mình không? Nếu không hợp, vậy thì ai có lý hơn? Đọc sách như thế mới thật là bổ ích.

Nếu trước khi đọc một tác phẩm nào mà ta lại đọc được một bài phê bình nó, thì hãy biết lợi dụng ngay bài phê bình đó, kiếm coi bài phê bình đối với quyển sách ấy đã nêu ra được vấn đề nào. Lấy vấn đề ấy làm câu hỏi của mình để rồi, tự mình đi vào quyển ấy mà quan sát tìm tòi phương hướng đó.

Như ta đã thấy ở mục quan sát, phàm muốn quan sát mà không thiếu sót thì không nên quan sát hỗn tạp mà phải quan sát theo từng giai đoạn. Đọc sách cũng vậy. Nếu muốn thấy rõ ràng tư tưởng của tác giả, cần phải quan sát từng vấn đề một mới được. Nếu xem xét tất cả một lượt thì không thấy gì cả.

Bản mục lục giúp cho tư tưởng ta tổ chức lại đàng hoàng. Thiếu nó, sau khi đọc xong quyển sách, trí óc mình hoang mang không hệ thống gì cả. Bác sĩ Paul Chavingy trong quyển Organisation du Travail Intellectuel đại khái có nói: Người Hoa Kỳ là người rất có trật tự và rất trọng giá trị của thời giờ lắm. Họ không chịu phí nó để đi tìm những cái gì phải tốn nhiều công phu mới tìm được. Một ông giáo sư Hoa Kỳ, ngày kia đi tìm sách ở nơi một thư viện, bất cứ quyển nào ông cũng lật kiếm bản mục lục. nếu ông thấy không có thì ông xếp nó lại ngay không thèm đọc, bảo rằng: “Không mục lục, sách vô dụng”.

Cái đó cũng có hơi thái quá, nhưng mà cũng có một phần hữu lý trong đó. Thời buổi này, ngày giờ đâu có dư giả nhiều để nghiên cứu, đọc sách… Thế mà gặp phải một quyển sách như thế, thà không đọc còn hơn…vì sách hay thiếu gì, bỏ qua cả một đời mình đọc cũng không hết, phí công chỉ vì một quyển sách ấy, người bây giờ ít có ai có đủ can đảm đọc nó, nếu nó lại là một quyển to tướng. Thế là, dầu là sách hay, công dụng nó rất ít vậy.

Ngoài sự đọc sách và làm văn-vì làm văn là một cách giúp tư tưởng rất đắc lực hơn đọc sách nữa-chỉ có “lặng lẽ và tịch mịch” là giúp cho tư tưởng mình phát triển được tự do và sâu sắc mà thôi.

“Cá nhân mà ở trong quần đoàn thì chỉ như một hột cát trong các hột cát: một trận gió thổi qua là tha hồ lôi cuốn đi hướng nào cũng được”.

Bởi vậy, những nhà độc tài thường ưa nhóm dân sự của họ lại trong những cuộc họp khổng lồ: Hết cuộc nhóm này đến cuộc nhóm kia…hết cuộc nhóm kia đến cuộc nhóm nọ…nghĩa là họ tránh không cho mỗi cá nhân có thời giờ suy nghĩ trong yên lặng và tịch mịch.

Những nhà đại tư tưởng như Thích Ca, Jesus, Lão Tử…là những người thích sống trong lặng lẽ…

Và trước khi họ phát minh, sáng tạo được một điều gì, luôn luôn là nhờ họ đã được sống trước một ít lâu trong tịch mịch.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s