ÓC SÁNG SUỐT – Nguyễn Duy Cần

Một sự hiểu biết gì mà không phải tự mình tìm ra, không phải là hiểu biết.

Phần đông những kẻ có bằng cấp trung học hay đại học mà làm nên một kỳ công đại nghiệp gì đều nhờ cái học tiếp tục của họ sau khi ra trường. Những thí sinh đã qua khỏi cuộc thi rồi, không bao lâu sẽ trả lại nhà trường cả và chỉ giữ lại một ít hiểu biết vụn vặt, những cái hiểu biết ngoài da hết sức dở dang, chỉ đủ làm một phận sự thơ lại trong các công sở mà phận sự không cần đến thông minh, chỉ biết cúi đầu làm theo những gì mà bề trên đã sẵn sàng vạch trước.

Một anh tú tài vừa tách ghế nhà trường có thể có cái biết của một nhà thông thái, nhưng mà là một thứ biết không ra hồn: cái gì cũng biết mà không có một thứ gì thật biết. Phải nói: người ta “ăn nhiều quá” mà “chưa kịp tiêu”. Vấn đề văn hoá là một vấn đề thời gian. Bỏ thời gian thì công trình văn hoá phải dở dang hư hỏng cũng như phải có thời gian hoa mới có thể nở, trái mới có thể chín, cây mới có thể mọc…vậy. Bởi thế nói đến công trình văn hoá ở nhà trường thật khó mà trông mong một cách ổn thoả được.

Phần nhiều những kẻ tự lập nên kỳ công đại nghiệp gì ở đời đều nhờ công phu tự học cả. Muốn được thế họ phải trải qua không biết bao nhiêu gian lao khổ cực để tìm lấy cho mình một lề lối, một kỷ luật để tự dìu dắt trên con đường tu tập.

Công phu huấn luyện tinh thần thành 5 phần:

  1. Thuật quan sát
  2. Thuật tập trung tinh thần
  3. Thuật tưởng tượng
  4. Thuật tổ chức tư tưởng
  5. Thuật nhớ lâu

Tư tưởng là khi nào mỗi ý nghĩ đều để lại một dư nghĩa, dùng làm chỗ nối cho một ý nghĩa khác theo sau và cuồn cuộn như dòng nước chảy…

‘Tư tưởng đính chính” là tư tưởng có bằng cứ chắc chắn, không phải lối tư tưởng vu vơ, bổng lổng thêu lêu, không gốc rễ.

Tinh thần cần phải được tự do mới hoàn toàn được phát triển đặng. Đành rằng nói đến Tinh thần tự do là đã nói dư tiếng, vì đã gọi là tinh thần thì bản thể nó là tự do rồi. Tinh thần không tự do, không còn gọi là “tinh thần” nữa. Tuy nhiên, tinh thần loài người bị dục vọng làm mờ ám, làm cho nó mất cả sự tự do hoạt động, nên phải nói đến tự do, tức là giải phóng nó ra khỏi cái vòng hắc ám của Dốt nát và Dục vọng.

Điêu luyện tinh thần, tức là giải thoát Tinh thần. Tinh thần mà bị dục vọng làm mờ ám, thì tư tưởng phải sai ngoa thiên lệch. Tinh thần được giải thoát, thì tư tưởng mới được sáng suốt đúng đắn. Cho nên điêu luyện tinh thần, mà không giải thoát nó, lại còn đem nó làm tôi tớ cho một khuôn mẫu nào, xiềng trói nó vào một tôn chỉ hay chủ nghĩa nào, là đã đi sai cả tôn chỉ của ta rồi.

Những sự việc xảy ra chung quanh ta hằng ngày thật hết sức phức tạp. Nó dồn dập như sóng bể, lớp sau theo lớp trước…khiến cho tinh thần ta tản mát đảo điên không khác nào con thuyền trôi chơi vơi trên mặt bể. Thử lấy ngay đời sống hằng ngày của một người mà ta thường gọi là tri thức, ta sẽ thấy rõ ràng sự tản mác tinh thần hơn. Sáng sớm dậy, nếu không phải bị radio nhồi cho một mớ tin tức lặt vặt không đâu, thì lại có báo chí họ cung phụng cho. Rồi đến phiên đi làm…nơi công sở hay hãng buôn để làm cho một công việc như bộ máy, không cần phải dùng đến trí phán đoán gì cả. Đến trưa hay tối về nhà, thì sống cái đời sống bằng phẳng tầm thường của gia đình: vợ chồng, anh em, bè bạn xúm nhau bàn bàn tán tán những câu chuyện nhảm…bên Tây bên Tàu, chuyện giặc giả, chuyện nhà người. Khó mà thoát khỏi các ạn báo chí kích thích bốn phương: kẻ nói nọ, người nói kia, những tin tức không thực, những lý lẽ vụng về, những lập luận hấp tấp…bấu xé đầu óc, làm cho tinh thần mình như chiếc lá khô quây cuồng theo cơn gió trót. Tinh thần không tập trung được…cho nên không có cái gì mình nhận thức rõ rệt dược, hay suy nghĩ đính chính được.

Sống giữa luồng sóng gió, mà tự mình không có một phương hướng nào nhất định, thì sự nhận thức của mình về mọi vật chung quanh không khác nào một cái bóng phớt ngang tường, không để lại được chút gì là dấu vết cả. Hơn nữa, phần đông con người chỉ biết chiều theo dục vọng để suy nghĩ, chớ không chịu nhọc công tìm hiểu sự vật theo cái thực diện của nó. Một mặt thì bị trôi giạt theo làn sóng của cảm giác bên ngoài; một mặt lại bị sự nung nấu của tình dục bên trong, thảo nào tinh thần ta không như chiếc thuyền bị thả trôi theo dòng nước.

Người bây giờ, suy được cái vỏ ngoài là văn minh, nhưng thật sự bên trong hãy còn mang lấy cái di tính của người bản khai: thích khen sợ chê, tự đặc, hiếu danh…ai ai cũng muốn thiên hạ phục mình, nên không chịu nhọc công suy nghĩ chính đính chi cho mất thời giờ, họ thích hoạt động mau lẹ, quyết đoán một cách cẩu thả. Sự phản động của  họ đối với những kích động của ngoại giới rất lẹ như bộ máy, không có chút dấu vết gì là tư tưởng cả. Lý luận của họ là lối lý luận của tình cảm, của dục vọng. Lại nữa, đầu óc bạc nhược, không đủ sức tập trung tư tưởng vào một vấn đề nào cho ráo riết, họ để tha hồ bên trong dục vọng làm chủ, bên ngoài giác cảm lôi cuốn, tinh thần bị rời rạt, đảo điên như ngọn đền chon dưới gió. Trái lại, kẻ biết tự chủ lấy tình dục bên trong, giác cảm bên ngoài, là kẻ biết vận dụng tư tưởng vào một việc gì mà không xao lãng.

Cách giáo dục ở nhà trường, cốt sao cho học sinh học cho được nhiều sách mà không thiết gì đến sự thật, đào tạo cho chúng ta ngày nay một lũ người “ngụy tri thức” (esprits faux), “bác học nửa mùa” (demi-savants) rất tai hại cho xã hội ngày nay không biết bao nhiêu mà kể. Chữ nghĩa của bọn nầy thì nhiều lắm, họ biết đủ thứ…nhưng chỉ để mà nói, mà viết…chớ dùng vào những việc thực tế trong đời, họ là bọn người không dùng vào đâu được cả: họ không nuôi sống nổi họ bằng một anh thợ máy. Thế là họ đâm ra làm cách mạng: bất kỳ là chủ nghĩa xã hội quá khích nào đều được họ làm tên lính tiền phong trung thành và nhiệt liệt hơn hết. Chính hạng người này là lũ người đem những chủ nghĩa không tưởng rỗng tuếch về xã hội, dắt dẫn quần chúng vào những cái hố sau không đáy của sự lầm than, của chiến tranh và trộm cướp.

Ngày nay, thay vì dùng tiếng nói để chỉ sự thật của mỗi sự vật, người ta thay đổi xác thể của nó đi: họ đem nó hoà lẫn với quyền lợi, với tính tự đắc, lòng yếm ổn cùng thiên kiến… Té ra, danh từ ngày nay lại thối về nguồn gốc của nó tự ngàn xưa: tư tưởng con người cũng theo cái chiều đó mà thối hoá.

nhà hkhoa học ức chế cả sự ưa thích riêng của mình, không bao giờ chịu dùng đến lý luận của dục vọng (logique pasionnelle), rất nhẫn nại dò xét sự thật một cách chu đáo, tìm đủ bằng cớ rồi mới chịu tin, nhất là không bao giờ vội vàng trong sự phán đoán. Trái lại, các nhà làm báo, các nhà chính trị, những bọn mị dân chủ nghĩa…họ làm cho danh từ biến thể, cốt dùng lời nói để lôi cuốn, phấn khởi quần chúng (passionner la foule), đào tạo những hạng người hung hăng đầy dục vọng để làm tay sai cho họ.

Vậy, ta cần phải biết suy nghĩ lấy một mình, biết “làm thinh” khi nào không biết và nhứt là phải coi chừng đừng để bị lôi cuốn theo những danh từ “hổ đầu xà vĩ” “toc vóc mà trống ruột”, nghĩa là “biết xem sự hùng biện như một sự thiếu lễ đối với kẻ nghe nó”. Tại sao dùng sự hùng biện là thiếu lễ đối với kẻ nghe mình? J.Payot trả lời: “Hùng biện là cốt làm cho đê mê óc phê bình đi. Dùng sự hùng biện để dẫn dụ người nào, là tỏ ra mình khinh khi người đó đến bực.”

Tóm lại, muốn tư tưởng cho đúng, phải có một tinh thần độc lập, tự do. Muốn có được một tinh thần độc lập và tự do, phải giải phóng cho nó ra khỏi ba cái xiềng xích đã nói trên, là

  1. Nhung cảm giác hoang mang loạn tạp bên ngoài;
  2. Những dục vọng hỗn độn bên trong;
  3. Những danh từ “hữu danh vô thực”.

Sự quen thuộc thường làm cho ta không thấy đặng những cái hay cái đẹp của chỗ ta ở hằng ngày. Kẻ ngoại bang đến xứ ta, thấy biết bao nhiêu là việc lạ mà chính ta không dè. Ta phải phản động ngay với những thái độ tiêu cực ấy: hãy xem xét chung quanh ta với cặp mắt của người xứ lạ. Ta sẽ thấy, đời ta sẽ đổi khác với nhiều tư tưởng mà xưa nay ta chưa từng có.

Biết quan sát tức là biết cật vấn, bất kỳ đối với người hay vật. Đừng để trong trí rằng dưới đời không còn gì mới lạ cả, và cái chi gọi là mới lạ, đều đã có nói rồi, không cần phải quan sát thêm làm gì nữa…

Người ta phần nhiều sở dĩ không thể quan sát được là tại, hoặc vì tinh thần quá tản mát đó đây, hoặc vì quá tập trung vào một ý tưởng nhất định.

  1. Tinh thần tản mát: Ấy là cái khuyết điểm của trẻ con, của thanh niên và những người nhạy cảm. Họ tò mò lắm, cái gì cũng xem, cái gì cũng ngó, nhưng mà sự chú yếu của họ rất dao động, rất nông nổi, chỉ có phớt qua sự vật thôi, như con bướm lượn trên các đoá hoa… Quá tò mò, mãi đi tìm cái lạ, thế mà cặp mắt không chịu đi sâu vào một vật nào cả. Mấy người ấy họ đi trong con đường đời cũng như đi qua một đám sương mù. Họ có thể là người đã tưng du lịch cùng năm châu bốn bể nhưng chỉ nhớ được có những chuyện không đâu, mờ mờ tỏ tỏ.
  2. Chú ý thái quá: Trái lại, nhiều kẻ vì quá mê say hoặc quá chuyên chú vào một lo nghĩ gì, nên sống trong đời như người mù quáng. Ngoài ý nghĩ của họ đang đeo đuổi, họ không nghe thấy gì cả. Ấy là cái khuyết điểm của người già, của kẻ si tình, nhiệt vọng, của kẻ nhà nghề quá chuyên môn, của những người quá thiên vị chức vụ. Anh tình nhân chỉ thấy có người mình thương. Người thích sưu tập đi đâu chỉ thu có những đồ họ thích sưu tập. Người làm tiền bất kỳ ở trường hợp nào cũng chỉ thấy cách làm tiền. Còn người thầy thuốc thì thấy cái chi cũng là bệnh cả… Người ta thường thuật những cái đãng trí lạ lùng của nhiều ông thông thái, đi ngoài đường không thèm ngó đến chiếc xe hơi đang chạy vào mình họ. Thái quá như bất cập, cũng đều không nên bắt chước. Thật là nhà thông thái, phải biết để tinh thuần tiếp xúc với toàn thể sự sống. Người thông thái là người biết hơn ai tất cả rằng trong đời thảy đều chằng chịt với nhau một cách rất mật thiết, và, lắm khi những điều họ phát minh ra được, chính là do nơi một sự quan sát không ăn chịu gì đến cái điều họ đang đeo đuổi nghiên cứu kia. Phải mở rộng giác quan, cho rộng đường nhận thức.

Trong đời sống hàng ngày, biết bao cảm giác không có ích cho ta, đều bị loại ra khỏi trí thức, nhưng được giữ lại tiềm thức. Nếu có thời giờ, ta cũng nên học âm nhạc để tập giác quan của lỗ tai, họ vẽ để tập giác quan của đôi mắt. Mỗi một giác quan mà được tinh sắc thêm lên là một điều kiện tăng tiến trí lực. Sự giáo dục giác quan và giáo dục trí thức phải cùng đi chung với nhau luôn mới đặng.

Những giác cảm do sự nhận thức các sự vật chung quanh ta, không phải chỉ toàn là những kích động vật chất mà thôi: một buổi chiều trời vừng ác lặn, mặt hồ phản ảnh bóng trăng trong hoặc đám sương mù bên sườn núi, ngọn gió mát thổi bên mình…ảnh hưởng, khêu gợi tâm hồn ta một mối tình. Một lời nói vô tình của cha, thầy có thể làm cho ta rung chí ngã lòng; một gương xấu cũng có thể làm cho ta sa ngã; một lời hay gợi cho ta biết bao sức mạnh tinh thần. Biết đâu, đọc mấy hàng nầy, nếu bạn nghiền ngẫm cho sâu xa, có thể thay đổi cả cuộc đời bạn, hoặc bây giờ, hoặc trong một thời gian sau nầy bạn mới ngụ ý đến, cũng không chừng. Vậy, trong các giác cảm, ta phải khéo lọc lừa, chọn lấy những cái nào giúp ích được cho ta theo chỗ muốn biết của ta, còn thì, hãy lượt bỏ đi tất cả. Đừng để cho những cảm giác vô ích, không trật tự làm hỗn độn đầu óc của ta, vì nó sẽ làm cho ta không thấy gì là sáng suốt được cả.

Điêu luyện thì điêu luyện riêng ra từng bộ; mà dùng thì dùng chung một lượt.

Thường ta chỉ nhận thức được những cái gì ta đã nhận thức trước. Bởi vậy, muốn cho ta chú ý đến một vật nào và nhận thức được nó một cách đầy đủ, chẳng những vật ấy phải có mặt trước giác quan ta, mà nó cần phải có mặt sẵn trong trí tưởng tượng của ta.

Xem tất cả một lượt, thì không thấy được cái gì rõ cả. Chỉ làm một việc thôi, và làm cho tới nơi tới chốn.

Ngoài thì thơn thớt nói cười
Ma trong nham hiểm giết người không dao.

Chỉ có những kẻ may mắn gần những người bạn chân thật ngay thẳng, nhứt là được có một bà mẹ sáng suốt hiền lành chỉ bảo cho những tánh hư tật xấu của mình, là có thể mong mỏi quan sát dược một cách sáng suốt nội tâm của mình thôi. Trước hết mình phải là người hết sức thành thật đối với mình, biết bỏ bản ngã ra ngoài, và chỉ biết tôn thờ chân lý mà thôi, bấy giờ mới có thể bắt đầu đi vào con đường nội tâm quan sát.

những đầu óc sắc sảo mới thấy được sự khác nhau trong sự vật, những đầu óc tầm thường chỉ thấy toàn là sự giống nhau thôi.

Một nhà sách nọ vì một mục đích quảng cáo bày ra một cuộc thi văn chương, đem so sánh các văn phẩm trong xứ. Họ chấm quyển Nho giáo của Trần Trọng Kim đứng đầu, mà quyển Kiều của Nguyễn Du đứng thứ 2. So sánh như thế là đem con cọp so sánh với con voi, 2 con vật không đồng loại. Ấy là một phần đông không trí phán đoán cùng “ùa” theo mà hoan nghênh nhiệt liệt. Đó là tại người mình phần đông chua có óc biết phân biệt sự khác nhau trong các sự vật.

Cá không ăn muối cá ươn,
Con không nghe mẹ trăm đường con hư.

Đây cũng là một lối loại suy nghĩ rất nông. “Cá không ăn muối” với “Con không nghe mẹ” không thể giống nhau được, vì điều kiện của một đàng thì tịnh, một đàng thì động. Điều kiện đã không giống, thì kết quả không thể giống nhau. “Cá không ăn muối cá ươn”, chắc như thế không sai được. Còn “Con không nghe mẹ” chưa ắt đấy sẽ là đứa con hư, mà có khi trái lại cũng không chừng. Đem một lẽ thường mà sánh với một lẽ bất thường, một lẽ tịnh mà sánh với một lẽ động, là so sánh một cách sai ngoa. Thật không phải là không có hại to vậy.

Sự vật trong đời, không bao giờ ngẫu nhiên mà có, cũng không bao giờ ngẫu nhiên mà không. Có hoặc không chỉ là cái quả, nguyên nhân của nó hoặc gần hoặc xa, chắc chắn là phải có. Có biết đặng nguyên nhân, mới đoán đặng kết quả. Thấy quả phải biết tìm nguyên nhân, thì sự phán đoán của ta ở đời mới được đúng đắn.

Chỉ có những đầu óc nông nổi là hay tin đến sự cộng đồng sinh tồn vá sự tiếp tục ngẫu nhiên trong sự vật thôi. Đời sống bôn chôn, tản mát, giáo dục hấp tấp vội vàng, thói đọc sách sơ sài ngoài mặt là những nguyên nhân làm cho tinh thân chúng ta thiển bạc lười biếng. Thấy sao, họ vẫn đinh ninh như vậy, không chịu khó tìm xem nguyên nhân sự vật nơi đâu.

“Có biết đặng nguyên nhân mới hiểu rành mọi sự… Tiền nhân, hậu quả, quả cùng nhân tương tiếp tương thừa. Đây nhân quả vô cùng vô tận. Chận một khoảng nào, thì khoảng ấy là quả của bao nhiêu nhân trước, mà là nhân của cả dọc quả về sau. Vậy thì quả đây, nhân nó là đâu? Người ta cắt nghĩa sai lầm một sự, là vì chỉ thấy một cái nhân nầy, không thấy cái nhân khác của sự ấy; chỉ thấy cái nhân gần mà không thấy cái nhân xa của sự ấy. Muốn hiểu rõ một sự, phải biết cho tường tận cái dọc nhân ở đàng trước của nó là gì? Song le có nhiều sự không phải chỉ có một dọc nhân làm ra nó, mà có nhiều dọc nhân làm ra. Không hiểu được hết cái dọc nhân, người ta đổ cho sự may rủi.”

Trước một hiện tượng nào, hãy tự hỏi: “Tại sao?” Và nếu có ai quả quyết với mình một điều gì, phải lập tức đòi hỏi lấy “bằng cớ”.

Đọc báo, thấy nhà phê bình chê hoặc khen một tác phẩm nào, phải tự hỏi liền: “Tại sao khen, tại sao chê?” Ta phải đòi hỏi nơi nhà phê bình những bằng cớ đúng đắn, trước khi nhận những lời phê phán của họ.

Tìm nguyên nhân sự vật là một lối quan sát rất cần thiết cho sự phán đoán. Thiếu nó, là thiếu những điều kiện cốt yếu để kết luận một việc gì. Nếu muốn hiểu rành một điều nghe thấy nào cần phải “có đủ các dọc nguyên nhân” mới được, nhưng “việc đời phiền phức, mà đời người rất ngắn, con người phải tạm sống với những cái kết luận tạm”. Thà kết luận tạm với một mớ nguyên nhân thiếu sót, có phải còn quí hơn là kết luận liều lĩnh mà không cần hiểu đến một nguyên nhân cỏn con nào cả không?

Trong các phương pháp tập luyện để có một nhận xét tinh vi như trên, tôi tưởng không có gì hay hơn học vẽ. Theo tôi, học vẽ là một sự cần thiết, mà bất kỳ ai, ở vào địa vị nào trong xã hội, đều phải biết qua những kỷ luật của nó. Hay dở là một việc không mấy cần, chỉ nên biết rằng: Người không học vẽ, không chịu huấn luyện theo kỷ luật của nhà hoạ sĩ, thì sự quan sát thiếu chỗ tinh vi. Một thiếu sót đáng tiếc, mà cũng là mất một nguồn hứng thú thâm trầm… Andre Gide cũng nhận như thế: “Khí cụ to tát của Văn Hoá, là Hoạ, chớ không phải là Nhạc.

Nhà quan sát đúng đắn, chân chính với cái danh hiệu của mình, phải tập luyện thế nào cho được có những đức tính sau nầy:

  1. Khéo léo: Ấy là thuật biết chiều theo hoàn cảnh hoặc tìm cho được đủ phương thế thắng cho kỳ được bất kỳ là trở lực nào ngăn cản sự quan sát của ta. Hoặc phải tạo ra máy móc, tìm tài liệu, tập võ nghệ, lội, trèo, chạy, nhảy cũng không từ.
  2. Kiên nhẫn: Có nhà thiên văn phải bỏ trên 80 năm để dò theo dấu hành tinh Herschell. Pasteur, muốn tìm nguyên nhân của chứng bịnh tằm, phải tự mình quan sát có trên 50000 lần. Vội vàng, nóng nảy đã làm hư hỏng biết bao nhiêu sự phát minh sáng tạo không đi được đến bờ bến.
  3. Chú ý: Đây là đức tính cần thiết cho sự quan sát đến có thể gọi “nó là tất cả sự quan sát” vậy.
  4. Nhuệ trí: Quan sát không phải chỉ xem phớt qua mà thôi, mà phải ngó cho thật kỹ, phải biết phân biệt cái nào chánh, cái nào phụ và phải biết loại ra những cái không ích lợi gì cho sự quan sát… Nhuệ trí là cái trí sáng suốt giúp cho ta thấy được cái chỗ chưa hiển hiện của sự vật, có thể cảm được mà không thể thấy được.
  5. Tinh mật: Nhà quan sát phải biết nhận xét tinh tế từng mảnh món công việc của mình quan sat. Phải kể ra tất cả những cái chi của mình thấy, và chỉ có những cái tận con mắt mình thấy thôi. Nhất định không có cái thói nghe nói đi nói lại, hoặc tinh theo sách vở hoặc một quyền thế nào. Phải hết sức gắt gao trong việc mình nghe thấy, biên lại hết sức kỹ càng và tỉ mỏi. Sự quan sát phải thật hết sức đầy đủ, không sót một phương diện nào cả.
  6. Vô tư: Nhà quan sát phải giữ gìn cho sự quan sát của mình hết sức khách quan mới được. Claude Bẻnardes nói: “Ấy là người chụp hình: nhà quan sát phải quan sát một cách công chính, không thiên vị, không thành kiến, tinh thần của họ phải “tịnh”, nghĩa là lẳng lặng, lẳng lặng mà nghe và biên lại một cách ngay thẳng những điều gì thiên nhiên bảo với mình.

Cần yếu là phải xem sự vật theo y như nó đã xảy ra, chớ không nên xem theo ý mong ước riêng của mình muốn cho nó phải xảy ra như thế nào.

Cái đặc điểm của những bậc vĩ nhân là nơi sức mạnh của sự tập trung tư tưởng của họ.

Chỉ làm một việc thôi, và làm cho tận tình.

Bất kỳ là làm việc gì, “chuyên tâm chú ý” là then chốt của thành công.

Ta cần phải để ý chuyên tâm đến những cái chi quan hệ nghề nghiệp ta, nếu ta muốn được sành sõi hơn. Sự chú ý của ta, cố nhiên là phải luôn luôn hoạt bát mới mong giúp ta thấy được những chỗ ta còn thiếu sót trong nghề nghiệp của ta hoặc để tìm phương sửa đổi lại, hoặc để cho công việc được hoàn toàn hơn. Đó là vì sự cần thiết cho nghề nghiệp mà ta chú ý được mạnh mẽ và lâu dài. Bất kỳ là ở vào một địa vị nào, nếu muốn cho nghề nghiệp của mình được tinh vi hơn, đều phải cần chuyên tâm để ý đến những công việc mình làm. Hoặc vì sự cần thiết buộc ta phải biết thêm một tiếng ngoại quốc nào. Bấy giờ, ta mới chịu để ý và chuyên tâm tận tuỵ học cho kì được thứ tiếng ấy. Tỉ như phần đông người mình bây giờ, tự thấy nếu không biết chữ Hán thì văn chương khó mà đi được tới chỗ tinh vi.

Những việc mà ta thường hay bỏ lảng, phần nhiều là những việc ta làm mà không thích. Nhưng nếu cứ làm đi làm lại mãi, rồi thì với thói quen, lần lần ta cũng thấy thú vị. Tuy trước không thích, nhưng quen rồi, thì việc gì cũng trở nên hứng thú được. Nhiều kẻ vì mục đích sinh nhai mà phải làm một nghề mình không thích. Nhưng lâu năm chầy tháng thói quen làm cho họ lại thích cái nghề ấy. Có thấy được hứng thú, thì công việc bấy giờ sẽ trở nên dễ dàng, sự chú ý đối với nghề nghiệp càng ngày càng tinh thêm.

Những kẻ có ý chí mạnh không cần lấy hứng thú và thói quen làm động lực cho sự chú ý của mình. Chỉ có một sự muốn của họ là đủ. Hễ nhứt định phải học, thì họ học, học cho kỳ được mới thôi.

Biết “hưỡn đãi sự phán đoán của mình lại” là phận sự đầu tiên của kẻ nào muốn tránh xa sự lạc lầm.

Chỗ làm việc của ta cần phải có đủ không khí trong sạch và đừng bị phải có sự ồn ào, lộn xộn. Tạo được cho mình một hoàn cảnh êm lặng, thuận tiện được chừng nào hay chừng nấy, vì có được thế, thì ta tránh cho thần kinh ta nhiều mối kích động vô ích.

Đi bộ là một môn thể dục rất đắc lực cho sự tập trung tư tưởng. Có nhiều người, khi phải suy nghĩ về một vấn đề gì quan hệ và khó khăn, họ chỉ đi lên đi xuống một hồi, thì đã có thể giải quyết được. Vì đi là một mối kích động khí huyết trong mình, giúp cho đầu óc ta linh hoạt lắm. Phần đông những người làm việc bằng trí đều công nhận như thế. Riêng phần tôi đã kin nghiệm, mỗi một khi tôi cần phải suy nghĩ về một vấn đề gì, tôi bỏ túi một tập giấy nhỏ và một cây bút máy, rồi thì đi bách bộ vào vườn bách thú trong một vài giờ, là vấn đề đó hiện ra một cách rõ ràng khúc chiết.

Về vấn đề tiêu hoá, ta cũng nên để ý. Máu rất cần cho sự tiêu hoá sau khi ăn cơm, nên bộ óc ta kém nó trong một lúc. Nếu trong lúc lấy lại còn làm việc bằng trí thì thật là mệt cho bộ óc ta vô cùng, lại rất có hại cho sự tiêu hoá, điều kiện đầu tiên của sức khoẻ. Vậy ta cần phải nghỉ ngơi một lúc, hoặc sắp đặt lại giấy tờ sách vở cho có thứ tự hoặc làm một công việc gì bằng tay (bào vách ván, sửa máy, v.v.) Những công việc ấy làm vừa vừa, đừng ráng sức, rất có ích cho thể chất hoạt động điều hoà với tinh thần.

Phải tập cho mình có được một tinh thần qui nhất. Những khi đọc sách gặp phải một chữ khó, cần phải tra tự điển thì phải biết chỉ kiếm cho được chữ ấy mà thôi. Trong khi lật từ điển, đừng để lôi cuốn đọc những chữ khác, làm phí cả thời giờ, mà lại tản mát tinh thần ra ngoài cái đề ta đang đọc. Trước kia tôi có tật ấy: mỗi khi tìm tự điện, hoặc tìm quyển sách nào trong tủ sách, tôi hay bị lôi cuốn dòm ngó những chữ khác hoặc những sách khác thuộc về những vấn đề không ăn vào công việc tôi đang tìm. Thật là lãng phí thời giờ vô ích, lại làm giảm sức chú ý của tôi rất nhiều. Bấy giờ tôi nhứt định sửa đổi cái cố tật ấy… Lâu ngày, rồi lại thành thói quen, không thấy bị lôi cuốn sa đà như trước nữa. Trừ một cố tật, không phải là dễ. Cần phải nhiều nghị lực, nhứt là nhiều hi sinh mới được. “Phải làm như con ong hút mật, đừng bắt chước theo con bướm giỡn hoa.”

Khổng Tử há không có nói: “Ngã phi sinh nhi tri chi giả dã, hiếu cổ, mẫn dĩ cầu chi giả dã.” (Ta không phải là người sinh ra đã biết, chỉ là người thích đạo thánh hiền đời trước, cố sức mà cầu lấy được.) “Thiên tài chẳng qua là kiên nhẫn mà nên” tưởng nhắc lại một lần nữa mà cũng không thừa.

Một công việc làm có được vô tâm như bộ máy, thì tinh thần mới tự do nghĩ đến công việc sáng tạo khác.

Hãy tập đọc, đọc để tóm lại một cách vắn tắt nhưng đầy đủ một bài báo nào hay một chương nào trong một quyến sách, hoặc cả một quyển sách nào nho nhỏ cũng được.

Chú ý là cả đời sống của tinh thần: Trí nhớ, Lý luận, Phán đoán chẳng qua là những kết quả hết sức tự nhiên của sự Chú ý.”

Người sống không lý tưởng, đời sẽ không thấy gì là hứng vị cả, mà cũng không giá trị gì. Lý tưởng ấy là nguyên động lực của tất cả hành động của ta. Thử nghĩ một người sống tha hồ, không tôn chỉ, không phương hướng, sống ngày nào hay ngày nấy, thì người đó trong đời, làm nên trò trống gì? Nhà khoa học, triết học, xã hội hay nhà buôn bán…mỗi người mỗi một lý tưởng, suốt đời cặm cụi theo đó mà quên hẳn những nỗi nhọc nhằn đau khổ của đời mình.

Lý tưởng cần phải thanh cao, nhân đạo – hơn nữa, nó cần phải thích hợp với thực tế – nghĩa là có thể thực hiện được. Không thế, nó sẽ rơi vào không tưởng của bọn người sống trong ảo tưởng (visionnaires) rất nguy hiểm vô cùng.

Trí tưởng tượng là cơ năng quí báu nhứt của tinh thần. Nó là sinh lực của tư tưởng. Thiếu nó, con người không sáng tạo được cái gì cả, đời sống con người lại cũng vì đó mà mất cả sinh thú.

Hết nhiệt tình, con người trở nên đần độn.

Nhà khoa học tuy có tham vọng muốn nắm trong tay những qui tắc biến dịch của mọi vật, để có đủ quyền lực điều khiển mọi vật theo những qui tắc ấy. Nhưng nhiều khi, có những hiện tượng còn hiểm hóc quá mà phương pháp khoa học cũng chưa khám phá nổi, các nhà bác học lại phải dùng trí tưởng tượng sáng tác, nêu ra những giả thuyết giải thích tạm thời. Rồi lại dùng quan sát và thí nghiệm để kiểm đem xem sự vật có diễn ra đúng như qui mô của những giả thuyết ấy không? Chính nhờ những con đường do trí tưởng tượng vạch ra đó mà người ta luôn luôn đi tới những phát minh bất ngờ, mới lạ. Cái công dẫn đường của trí tưởng tượng ở đây không phải là nhỏ. Người ta gọi đó là trực giác của nhà khoa học, thứ trực giác được chứng nghiệm nầy khác hẳn với cái trực giác lông bông vô sở cứ của nhà triết học nhuộm màu thần bí.

Nếu xem tất cả một lượt, thì không thể thấy gì hết.

Những ức thuyết mở đầu thật là cần thiết, nhưng phải khéo dùng óc phê bình mới được, và nếu thấy nó không thể dùng được hoặc không phù hợp với thật sự thì phải tìm ngay cái khác mà thay vào liền.

Ta cần phải nghiên cứu những khoa học thực nghiệm để suy tầm những kiến thức khoa học dùng làm nền tảng cho sự xét đoán của ta… Nhưng chớ có lầm những ức thuyết với những kiến thức thực nghiệm. Trong bất cứ ngành khoa học nào cũng có ít nhiều lý thuyết, chớ nên xem đó là những chân lý đã lập thành.

Đừng sợ oai quyền ai cả, dầu là nhà khoa học chân chính nói ra, cũng chỉ tạm tin để rồi sau sẽ nghiệm lại. Đừng coi những kiến thức khoa học là tuyệt đối vì khoa học vẫn luôn luôn còn cố gắng để tiến đến cho gần vơi sự thực, chớ chưa phải là đã tới chân lý rồi. Lịch sử khoa học đã chứng rằng có nhiều điều mấy chục năm về trước, các nhà khoa học cho là chân lý, mà nay đã rõ ra là lầm lạc cả rồi.

Óc tân kỳ chuộng lấy sự hoàn thiện, bất kỳ là việc gì, họ cầu cho nó tốt hơn, hay hơn, chớ không phải chỉ muốn cho nó mới lạ, để lập dị với mọi người. Mỗi một việc gì họ làm, họ không chịu để cho nó mãi mãi trong cảnh ao tù nước động, họ tìm cách sửa đổi cho nó thêm hoàn toàn hơn. Cũng như cây viết máy. Ta hãy xem lịch sử của nó, sẽ thấy rõ nhờ óc tân kỳ mà cây viết máy xưa và cây viết máy nay khác nhau như thế nào. Nếu không có óc tân kỳ, người ta không bao giờ thấy có sự tiến bộ được bất kỳ là thuộc về ngành hoạt động nào của con người.

Có óc tân kỳ, thì nhứt định không chịu theo ai mà suy nghĩ hay hành động, nghĩa là bất kỳ trong công việc gì của mình làm đều có lộ ra cái bản sắc của mình trong đó cả. Dầu có nghĩ theo ai hay làm theo ai đi nữa, thì sự nghĩ sự làm bao giờ cũng có nhuộm màu cá tánh của mình, chớ không phải lối bắt chước nhu cái máy. Dẫu là những tư tưởng cổ, gặp họ, cũng thành ra mới mẻ.

Làm thế nào để có được óc tìm tòi?

  1. Phải ráng mà xem xét, quan sat sự vật đủ cả mọi phương diện.
  2. Phải tìm cách thay đổi, tô điểm công việc mình làm cho thêm hay thêm đẹp, thay vì cứ cúi đầu bắt chước theo kẻ khác.
  3. Đừng bao giờ để ý một việc gì mà không tìm cho ra nguyên nhân của nó.
  4. Phải biết kinh ngạc đối với những gì mình không hiểu.

Thường, những kẻ sống một đời dễ dãi, yên ổn không nghĩ gì đến sự sáng tạo. Trừ khi nào họ thấy sự nghiệp sắp nghiên đổ họ mới chịu vận động đến trí tưởng tượng, tìm đủ phương thế để vãn cứu hoặc duy trì tình thế lại mà thôi.

Đọc sách, tôi thường hay xem bản mục lục trước, là để tìm lối tổ chức tư tưởng của tác giả như thế nào? Tôi hay học thuộc lòng những bản mục lục các quyển sách của những bực đại triết gia nghiên cứu về những vấn đề quan trọng trong đời người. Những sách nghiên cứu ấy thường là những công phu nghiền ngẫm rất tinh vi, và bày diễn rất trật tự, rất thấu đáo.

Đối với sự hiểu biết ta mới thâu nhận cũng phải biết sắp đặt nó cho có thứ lớp, đừng để chồng chập ngổn ngang trong khối óc. Ví như đọc báo, ta thây nói chuyện về một nhà y sĩ chết vì bị truyền nhiễm trong khi săn sóc bệnh nhân. Nhân đó, nếu ta biết nghĩ qua các nhà bác học, các nhà y sĩ cổ kim khác chết vì phận sự mà ta đã biết, để so sánh, phê bình; đó là ta biết cách bắt các quan năng tinh thần làm việc theo phương pháp liên tưởng để phân loại, sắp đặt sự nghe, thấy, hiểu, biết của ta cho có thứ tự trong đầu óc. Trái lại, nếu ta chỉ nói: “Đó là một người hiếm có” rồi thôi không quan tâm gì đến nó nữa cả, thì sự hiểu biết của ta không thêm được chút gì, mà tư tưởng mới lạ cũng khó bề nảy nở. Liên tưởng của ta càng ngày càng kém về hoạt bát mà sự học hỏi của ta càng ngày lại càng bị xoá nhoà trong trí nhớ.

Mỗi khi nghe thấy hay đọc một điều gì hay, lạ, ta hãy đem nó mà phân loại, sắp đặt theo thứ tự với những điều ta đã biết trước. Mỗi lần hành động như thes là mỗi lần dượt lại sự học hỏi hiểu biết của ta và cũng là một lần đem thêm tài liệu mới mẻ mà sắp vào ngăn nắp của trí nhớ.

Đem một việc mới lạ mà họp lại với một điều đã biết, hay là nói một cách khác, đem cái mới và cái cũ cùng một loại để đồng hoá với nhau, đó là “hiểu biết” vậy.

Có được một cái vốn về “tiêu chuẩn” để phân loại cho dễ dàng thật là một việc rất khẩn cấp cho sự phán đoán của mình. Nhưng, phải biết cho nó không phải là tuyệt đối. Nó tuỳ thời, tuỳ cảnh, tuỳ địa vị, tuỳ trình độ của mỗi người mà thay đổi mãi. Nhà xã hội, nhà kinh tế, nhà giáo dục có những tiêu chuẩn khác nhau về một sự hay một vật. Ta không cần quan tâm đến. Ta nên tự hỏi: Đối với trình độ trí thức ta hiện đây, ta lấy tiêu chuẩn nào để phân loại những sự vật quan hệ đến ta? Rồi thì, với thời gian, sự học hỏi của ta càng tiến, kinh nghiệm của ta càng nhiều, ta hãy đem những tiêu chuẩn trước kia ra mà phê bình sửa chữa lại. Đừng bắt chước theo ai cả, phải tuỳ theo sự hiểu biết của mình mà tìm tiêu chuẩn. Và những tiêu chuẩn ấy phải biết sửa đổi nó theo sự tiến hoá của tinh thần trí thức ta mới được. Bất kỳ là việc gì, hãy cầu cho nó được tận thiện tận mỹ.

Bất kỳ là đọc một bộ sách thuộc về nghiên cứu hay lý tưởng nào, nên ra công biên lại một bản mục lục của nó với những chi tiết hết sức tỉ mỏi, tóm lại những đại ý hoặc thảo sơ lại một cái hoạ đồ, để giúp cho trí não được có trật tự. Phải giữ trật tự ở ngoài cho thật chu đáo: mỗi mỗi vật gì đều phải dành một chỗ riêng cho nó. Trật tự ở ngoài ảnh hưởng rất to đến trật tự ở trong. Con mắt thoáng qua kệ sách của mình sắp đặt đàng hoàng đủ giúp mình ôn lại một cách rất trật tự những điều mình đã học đã hiểu.

Muốn thâu hoạch tư tưởng cho có phương pháp cần phải nghiền ngẫm và thi hành những bí quyết sau đây:

  1. Tập tổ chức tư tưởng bằng cách tổ chức trật tự bên ngoài trước: sắp đặt tài liệu, giấy má cho có ngăn nắp, sách vở chỉnh đốn cho có trật tư, thu vén áo quần cho có thứ lớp. Các vật thường dùng trong nhà phải dành mọt chỗ riêng cho mỗi món: kềm, búa để một chỗ, thuốc men để một nơi, áo quần để một góc… Như thế, mình cần kiệm được thời giờ, cử chỉ, tư tưởng của mình cũng được đúng đắn, còn tinh thần thì yên ổn vì mình chắc chắn không bao giờ có những cử động vô ích, vụt chạc…
  2. Hãy có một tôn chỉ rõ rệt chắc chắn. Phải biết mình muốn cái gì. Quan hệ nhứt là chỗ nầy. Người mà không bao giờ chịu quan tâm suy nghĩ đến cái điều mình muốn, thì họ phung phí tinh lực họ một cách vô lối. Phải thảo cho mình một chương trình làm việc, từng giai đoạn tiếp nhau. Chương trình ấy phải cho vừa rộng rãi để mình có công việc làm mãi, mà cũng hạn định vừa năng lực mình để tránh sự quá sức.
  3. Hãy thảo một cái biểu dùng thời giờ cho tỉ mỏi và đúng đắn, và đừng bao giờ sai chạy trong khi thi hành nó. Phải tập cho mình có những thói quen tốt. Ngủ, thức, làm việc…nhất nhất phải có qui củ. Nhất định 4 giờ sáng dậy, 9 giờ tối đi ngủ, thì đừng có thất hứa với mình. Được như thế thì đời mình trật tự lắm và cũng là một cách tập luyện ý chí rất hay. Có kẻ sẽ bảo: sống như thế là nô lệ. Không! Tự do không phải là hỗn độn, mà là trật tự và điều hoà, một trật tự mà tự mình vạch lấy cho mình, và làm y theo không sai chạy.
  4. Phải biết tổ chức tư tưởng những giờ làm việc hay nghĩ ngợi của mình theo nguyên tắc sau đây: “Việc nào theo lúc nấy và chỉ trong lúc ấy mà thôi.” Nghĩa là, làm việc gì, phải dành riêng cho nó một thời gian nào, và trong thời gian đó, chỉ làm việc ấy mà thôi, không nên nghĩ tới một việc nào khác. Đừng có cái thói quen làm nhiều việc một lượt mà không có việc nào rồi việc nào cả. Trong khi làm hay suy nghĩ một việc gì, nếu có người đến làm rộn mình buộc phải ngưng lại ngay, thì hãy ghi nó trong quyển sổ tay chỗ mà mình đang dừng đó, để sau này tiếp tục lại.
  5. Đừng bao giờ bỏ dở một công việc gì mình đang làm. Nếu là một công việc phức tạp và lâu dài thì phải biết phân chia nó ra nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn phải làm cho xong và đầy đủ.
  6. Đừng bao giờ để qua ngày mai việc gì mình có thể làm trong hôm nay. Một công việc mà ngày nay mình còn xem là chán, thì ngày mai nó sẽ khả ố đến bực nào.
  7. Gặp một vấn đề cần giải quyết, phải trần liệt nó ra một cách rạch ròi và đơn giản. Lại cũng phải biết hạn định nó, không thì nó sẽ minh mông quá. Bấy giờ xem xét nó đủ mọi phương diện, đừng cho thiếu sót chút nào cả. Nhớ lại cho kỹ những điều mình đã biết, đã đọ, đã kinh nghiệm về vấn đề ấy, và tìm lấy những moois liên tưởng giữa hai bên một cách đầy đủ theo bản đồ của bác sĩ Viard đã nói trước kia. Biên kỹ ra trên giấy, để xem xét lại coi mình còn thiếu sót chỗ nào nữa không.
  8. Đem những ý tưởng của mình ra mà phê bình một cách gắt gao, như những tư tưởng ấy không phải của mình, mà là của một người nào khác lạ vậy. Mình hãy tưởng tượng như mình đứng vào địa vị một nhà buôn, một ông kỹ sư, một ông thầy kiện để phê bình quan niệm mới ấy của mình. Nếu đứng vào địa vị của người bạn mình mà gặp một vấn đề như thế, mình sẽ nghĩ sao? Và họ nói như thế có đúng không? Mình hãy tìm những bằng cứ để bênh vực lý thuyết của mình.
  9. Phải canh cánh bên lòng 4 cái nguyên tắc về phương pháp luận này:
    Chỉ nên tin những cái chi là thật khi nào ta biết chắc nó là thật, nghĩa là, chỉ những tư tưởng nào sáng suốt rõ ràng mới có thể tin chạy, và hãy tránh những cái chi còn mù mờ hỗn độn.
    Phải biết phân chia những vấn đề phiền phức ra từng vấn đề giản dị hơn.
    Bất cứ là làm một việc gì, hãy bắt từ chỗ dễ đi vào chỗ khó, từ chỗ đã biết đi lần vào chỗ chưa có thể biết được, từ chỗ đơn sơ tới chỗ phiền phức hơn.
    Phải tập giải bày những phán đoán của mình ra một cách sáng suốt, tinh tế, dẫu chỉ tư tưởng suông trong đầu óc thôi, chưa kịp biên ra trên mặt giấy cũng vậy. Phải có một kiến văn rộng rãi và bao quát về những vấn đề mình đang giải quyết.

Muốn nhớ một điều gì, cần yếu là điều ấy phải cảm mình mới đặng. Những điều mình bị kích động nhiều là những điều mình nhớ dai hơn hết. Những kẻ nhiều tình cảm là những nhớ dai nhứt. Một việc gì mình ở không vừa lòng họ, hoặc chạm đến lòng tự ái họ, họ nhớ cho tới chết cũng không quên.

“Kẻ không biết hạn định lấy mình, không bao giờ biết viết văn.”

Vì thế, viết một bài văn hay, hoặc vẽ một bức hoạ khéo đâu phải dễ. Người viết nó phải, trước nhất, có chủ ý rõ rệt, rồi lại phải biết gìn giữ, trong khi giãi bày những ý phụ, đừng sa đà ra ngoài đề. Giá trị của một nghệ sĩ là chỗ biết giản lược những gì phiền phức rườm rà để tăng gia sinh lực cho cái cảm giác chung, nghĩa là phải biết “hi sinh”. Mặc dầu là những chi tiết hay, hoặc là những tài liệu quí đến bực nào, nếu thấy không cần thiết, không liên lạc một cách chặt chẽ với đầu đề, hãy có gan hi sinh nó đi. Nó là thứ chùm gởi không nên dung dưỡng trong tác phẩm của mình. Viết văn mà biết thi hành nguyên tắc “nhật dĩ quán chi” ấy, đó là mình tập cho đầu óc mình bao giờ cũng bình tĩnh sáng suốt.

Biết được cái lý của nó, thì một lời nói là hết; không rõ được cái lý củ nó thì lưu tán vô cùng, – nghĩa là nói mãi mà không rồi.

Bất kỳ là đứng trước một việc gì, một bức thơ hay một công văn, đọc một bài báo hay một quyển sách…nghĩa là từ một việc nhỏ đến một việc lớn nào, thống soái bao giờ cũng lẩm nhẩm câu: “Việc gì đây?”. Để chi? Để tìm cái chánh đề và giải quyết liền vấn đề ấy trong phạm vi nó, không hoang mang lạc lõng theo những câu chuyện ngoài lề.

Thường thường trong khi đeo đuổi một vấn đề gì, người ta thường hay bị xao lãng theo những điều kiện không chịu ăn vào đề, thành ra hay bị lôi cuốn vào những chuyện không đâu mà quên mất cái cốt yếu của vấn đề mình đang giải quyết. Câu châm ngôn của Foch mới xem, thật là giản dị và tầm thường, nhưng nếu đem nó ra thực hành, sẽ thấy nó là một phương pháp tuyệt hay để tránh cho ta những sai lầm trong khi cân phải giải quyết một vấn đề gì.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s