TÔI TỰ HỌC – Nguyễn Duy Cần

Từ sự không có văn hoá đến lòng thiên chấp, chỉ có một bước mà thôi.

Người có văn hoá cao là người mà tâm hồn thật cao rộng, dung nạp được tất cả mọi ý kiến dị đồng, không có những kiến hay tư tưởng một chiều, bao giờ cũng nhìn thấy tát cả mọi mặt trái của sự đời. Bởi vậy, muốn có được một tâm hồn cao rộng ít ra phải có một nền học thức rộng đủ mọi mặt, kiêm cả đông tây, kim cổ. Kẻ nào tin tưởng một cách quả quyết rằng chỉ có mình nắm được chân lí tuyệt đối là kẻ không thể có lòng khoan dung rộng rãi. Nhất là không thể là một nhà tâm lí sâu sắc được.

Học rộng sẽ giúp ta đi từ “tuyệt đối luận” qua “tương đối luận”, biết vượt lên trên những lập trường eo hẹp hạn định của một hệ tư tưởng khác không hợp với lòng ưa thích của mình. Người học thức rộng là người biết thưởng thức tất cả mọi hình thức văn bất luận đông tây kim cổ.

Đầu óc hẹp hòi, hay suy nghĩ có một chiều, nên dễ sinh ra cuồng tín. Cuồng tin là tai hoạ ghê gớm nhất của mọi thời đại, bất cứ là thời đại nào. Trừ bớt được nó chút nào, may ra chỉ có văn hoá. Như vậy, phải chăng văn hoá là một trong nhiều phương tiện tranh đấu để đem lại tình thương và hoà bình cho nhân loại? Đó là mục tiêu cao nhất của văn hoá: Làm cho con người hoàn thành sứ mạng của con người.

Biết, mà không thực hành được, cũng chưa gọi là “biết“.

Người xưa có ví: “Con chim ăn cỏ, đâu phải để mà nhả cỏ, mà là để biến thành những bộ lông mướt đẹp. Con tằm ăn dâu, đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…”. Học mà không “tiêu hoá”, có khác nào con chim nhả cỏ, con tằm nhả dâu… Người ta rồi cũng chẳng khác nào cái máy thu thanh, chỉ lặp lại những gì kẻ khác đã nói… Học như thế không có lợi ích gì cho mình mà còn hạ phẩm cách của con người ngang với máy móc. George Duhamel có nói: “Đừng sợ máy móc của bên ngoài…hãy sợ máy móc của cõi lòng…”. Một xã hội mà con người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hoá đã đến ngày cùng tận rồi… Mà tinh thần loài người rồi cũng đến lúc diệt vong: có xác mà không hồn… Học mà đưa con người đến tình trạng ấy, tôi tưởng thà đừng học có hơn không? Cái hiểm trạng của xã hội phần lớn phải chăng một phần nào đó đều do những bộ óc “học thức nửa mùa” ấy gây nên?

Andre’ Gide cũng nói: “Một cái hạnh phúc mà vô tâm, tôi không chịu sống trong hạnh phúc ấy“.

Học mà đến mực dường như quên hết tất cả sách vở mình đã học thì cái học ấy mới thật là “nhập diệu”. Herriot nói: “Học thức là cái gì còn lại khi mình đã quên tất cả”.

“Đấy là con đã học ‘mùi’ rồi. Quên tức là đã nhớ nhiều rồi đó. Con hãy yên tâm…”

Thiên tài chỉ là một sự nhẫn nại bền bỉ lâu ngày. Muốn thành những bậc tài hoa, điều thứ nhất là phải có lí tưởng, có đủ tin tưởng và chí kiên nhẫn để thực hiện lí tưởng ấy; điều thứ hai là làm việc cho có trật tự; có phương pháp, nhẫn nại và lặng lẽ, không bồn chồn, không vội vã…

Một việc làm âm thầm, lặng lẽ trong cô tịch nhưng đầy  hăng hái, đầy kiên nhẫn sẽ là những công việc làm có nhiều kết quả vẻ vang và sâu sắc nhất. Trong khoảng âm thầm lặng lẽ nghiên cứu học hỏi các bạn đã tìm ra được lắm ý nghĩa hay ho, nhiều tư tưởng tân kì có thể là những nền tảng cho một đời sống tin thần và phát minh sau này của bạn.

“Điều mà ta biết rõ nhất là ta không biết gì cả”-Socrate.

Người ta có thể đọc sách rất nhiều, đi du lịch cùng khắp thế giới mà dốt nát vẫn hoàn dốt nát. Là tại sao? Đọc sách có nhiều sách. Nếu đọc sách chỉ để giết thời giờ, tìm vui thích hoặc để tìm quên lãng trong những lúc buồn chán ở trên toa xe hay đọc sách để tìm giấc ngủ – thì đọc sách không lợi gì cho tinh thần cả. Đọc sách mà có lợi cho tinh thần là khi nào mình biết vận dụng tất cả năng lực và năng khiếu của mình, nhận thức được rõ ràng những ý kiến sâu thẳm của lòng mình đem ra so sánh với những ý kiến dị đồng của tác giả, biết sắp đạt lại những kí ức của mình, biết trầm ngâm suy nghĩ, biết làm việc có phương pháp. Tóm lại, biết thảo luận và thông cảm với tác giả quyển sách mình đọc, đó là cách đọc sách đấy.

Chỉ khi nào có hứng thú thì sự cố gắng mới được bền bỉ. Lòng ham muốn mê say là một động cơ thúc đẩy và nuôi nấng sức cố gắng không ngừng đến cực độ. Bởi vậy, tìm được hứng thú cho sự học, bất cứ là học cái nào, đó là điều kiện đầu tiên và cần thiết để duy trì sự cố gắng được lâu bền và có đường lối.

Muốn đào luyện óc tinh nhuệ, điều kiện đầu tiên là phải biết tập trung tất cả sự chú ý của ta về cái con người “sâu sắc, phức tạp mà duy nhất” của mình đây… Trong tất cả cái học trên đời này, cái học về mình là quan trọng nhất. Cần suy nghĩ, nghiền ngẫm đến con người nói chung và của mình nói riêng, tìm hiểu một cách sâu sắc, tinh tế những tình cảm của ta, những cách suy nghĩ và hành động của ta… Phải để ý quan sát và tìm hiểu ý nghĩa và hành động của con người trong khi mình giao thiệp với họ, từ cái tiếng cười hay câu nói, trong cái lặng thinh hay liếc mắt đều có một cái gì biểu lộ được cái sâu kín của cõi lòng. Đó là phương pháp hiệu quả nhất để mài giũa óc tinh nhuệ của ta… Muốn cho óc tinh nhuệ được thêm tế nhị, ta cũng cần rút kinh nghiệm nơi những bộ tiểu thuyết danh tiếng của các đại văn gia Âu Mỹ cũng những tuồng truyện có tiếng tăm quốc tế.

Khi mình còn ít tuổi thì mình chưa định, chưa biết tuyển chọn, nên sự kết giao rất bừa bãi. Đến khi có tuổi, thì sự kết giao bắt đầu siết chặt lại vòng dây: ta bắt đầu tuyển chọn. Về việc học cũng thế.

Tiếng đàn hay là hay ở dư âm… Lời nói hay là lời nói vắn tắt mà hậu ý thâm trầm và man mác…

Bấy lâu nay chúng ta đi dự không biết bao nhiêu đám cưới, không biết bao nhiêu đám tang, không biết bao nhiêu phòng triển lãm nhảm nhí, không biết bao nhiêu tuồng hát tầm thường không giá trị… Đám tang thì chỉ nên dự vào những ai là người chí thân; những kẻ đến dự cho có, không nên đến nhiều, làm rộn tang gia. Đám cưới mà dự cho đông, toàn là để có dịp khoe khoang tán hão, không lợi gì thiết thực cho đôi tân nhân là chân hạnh phúc của tình yêu họ. Đi dự các phòng triển lãm nhảm, hoặc đi xem những vở tuồng “xoàng” là một sự mất thời gian đáng tiếc.

Phải biết bênh vực cái thời giờ quý báu của ta. Biết từ chối, đó là một sức mạnh của tâm hồn. Đừng sợ làm phật lòng kẻ khác bằng sự từ chối khéo léo: mình đã chẳng những làm lợi cho mình mà cũng không làm bận cho người. Những người thông minh họ rất hiểu tâm sự của các bậc học giả cũng như của nhà ham học. Phải thật can đảm, mới chống trả nổi những dụ dỗ của cuộc sống xa hoa phù phiếm chung quanh. Những quyết tâm đào tạo cho mình một đời sống tinh thần, phải ít ra có một đời sống đơn giản, một nếp sống xa hẳn cuộc sống xa hoa của đời náo nhiệt bên ngoài, nghĩ là, nếu có thể được, nên có một nếp sống của một người “ẩn dật”…

Đời sống giản dị là đời sống của phần đông các bực vĩ nhân. Họ là người chống lại sự tản mác tinh thần không chạy theo những phụ thuộc của cuộc đời.

Các đặc điểm những bậc vĩ nhân là nơi sức mạnh của sự tập trung tinh thần của họ.

Bất cứ làm việc gì, chuyên tâm chú ý, tập trung tinh thần là bí quyết của thành công.

Tập trung tinh thần, là biết trung thành luôn luôn với lý tưởng. Tập trung tinh thần không có nghĩa là tự giam mình trong một phạm vi chật hẹp nào của nghề nghiệp, mà trái lại, tự mình lựa chọn một trung tâm hoạt động tha hồ quyền biến mà không bao giờ sai với tôn chỉ.

Aristote nói: “Tất cả mọi người đều ao ước được có nhiều hiểu biết. Nhưng muốn hiểu biết, điều kiện đầu tiên là phải biết nhìn đời với cặp mắt của đứa trẻ thơ: cái gì cũng mới và làm cho ta ngạc nhiên được cả.”

Chỉ có những người tự đắc và nông nổi mới dám quả quyết: “Đời dục cả, một mình ta trong. Đời say cả, một mình ta tỉnh”. Tự mãn trong sự hiểu biết của mình và tin tưởng rằng không còn gì phải suy xét lại nữa là tự huỷ hoạ con đường tiến thủ tinh thần ta rồi.

Sự vắng mặt giúp cho chúng ta suy ngẫm nhiều, đồng thời nó cũng là món ăn tinh thần cho những tâm hồn đa cảm. Xa nhau thường là mối dây thiêng liêng ràng buộc tình cảm càng thêm bền chặt. Sự sống chung đụng hàng ngày dễ làm cho ta nhàm chán và xem thường. Cho nên một trong những phương pháp nuôi dưỡng tình yêu là thỉnh thoảng nên xa nhau để cho tình thương càng thêm nung nấu.

Biết đặt câu hỏi là cả một nghệ thuật của phép dạy dỗ, làm kích thích tư tưởng.

Plato nói rất sâu sắc: “Hiểu biết, thực ra, là một sự nhận ra những gì ta đã biết”. Nghĩa là, cái thật biết là cái biết do mình đã tìm ra. Ta chỉ tahy61 được những gì ta đã thấy. Ta chỉ thích được những gì ta đã thích. Có đồng mới có ứng, không đồng không ứng. Đọc sách mà biếthay chẳng qua vì nó là tiếng dội của lòng mình. Những ý tưởng mà ta đã nghĩ qua, những tình cảm mà ta đã trải qua, nhưng vì không được hàm dưỡng đúng mực nên giống như ngọn lửa than âm ỉ trong đáy lòng, nay bỗng gặp được ngọn gió thổi lòng nên nó bừng lên mà cháy lại. Thực ra, chỉ có “đồng thinh” mới “tương ứng”; “đồng khí” mới “tương cầu”.

Những người còn trẻ tuổi nên lân la những bậc trưởng thượng, những kẻ đã từng trải cuộc đời để nghe họ nói chuyện. Họ là những người không còn dục vọng sôi nổi của tuổi trẻ, đã có nhiều kinh nghiệm và cuộc đời sẽ có nhiều bình tĩnh hơn. Tóm lại, kẻ lớn tuổi cũng cần gần gũi thanh niên để khỏi bị tê liệt tinh thần; còn thanh thiếu niên cũng nên gần gũi với người già; họ không còn quyền lợi gì để lừa dối ta nữa. Đương lứa với nhau, vì sự tranh dua với nhau mới có sự lừa dối nhau, chứ kẻ không còn tranh hơn tranh kém với mình, họ đâu có lợi gì để lừa bịp mình nữa! Sự va chạm giữa hai thế hệ là một nguồn kích thích tư tưởng rất lợi ích cho hai đàng.

Lại nữa, cũng nên cố gắng mà trả lời một cách thành thật và đúng đắn những câu hỏi đột ngột của trẻ thơ. Con trẻ thường giữ được sự tán thưởng tự nhiên: đối với chúng thảy đều là những hiện trạng bất thường… Chúng thường có những câu hỏi bất ngờ nhưng đầy ý vị sâu xa, mà phần đông người lớn không sao trả lời cho xuôi được. Nhưng thường lại những câu hỏi đầu ý nghĩa của triết học nếu ta biết để ý đến. Đừng bỏ qua mà la rầy đàn áp chúng, như chúng ta thường có thói quen khinh thường chúng.

Đọc sách để tìm an ủi trong đau khổ, đọc sách để tìm một sức mạnh tinh thần, giúp tâm hồn mình thêm nhẫn nại, can đảm mà vượt qua những thống khổ của cuộc đời, đọc sách để tìm hứng thú cho tinh thần cũng đều thuộc về loại đọc sách để tự học cả, vì phàm cái chi hoạt khởi được tâm cảm mình, đổi mới được về khuynh hướng chân, thiện, mỹ đều bổ ích cho tinh thần trí não của mình.

Jules Payot nói: “Nếu cho tôi được sống lại cuộc đời của tôi, tôi tự thệ trong lúc trẻ tuổi, chỉ đọc ròng sách hay, do những bực vĩ nhân trong tư tưởng giới viết ra thôi. Tôi đã  mua rất đắt cái kinh nghiệm đã qua của tôi khi còn nhỏ, đã làm phung phí sức lực của tôi rất vô lối vì những tác phẩm vô giá trị. Nếu anh em muốn có một tương lai tốt đẹp về tinh thần, hãy nghe theo tôi, đừng bao giờ đọc sách nhảm…”

Đừng bao giờ tìm hiểu biết một người bằng lời giới thiệu của một kẻ thứ ba. Sự ưa ghét, bao giờ cũng thiên lệch. Ưa thì nói tốt, ghét thì nói xấu…đều là những phê bình chủ quan cả. “Đồng với ta, cho ta là phải; không đồng với ta, cho ta là quấy”. Cái Phải Quấy của con người thường chỉ có thế thôi.

Làm bạn thì nên làm bạn với những kẻ cao hơn mình về tài đức, đọc sách nên đọc những quyển sách cao hơn trình độ tư tưởng của mình thì mới mong tiến bộ mau trên con đường tri thức.

Những kẻ đụng đâu phê bình đó, không kể gì đến liêm sỉ, thường lại được bọn người vô học ưa thích, vì họ tưởng làm hạng người ấy là hạng đại tài, bởi có tài mới phê bình kẻ khác một cách dễ dàng được. Đứng về phương diện tâm lý mà xét thì phần đông kẻ có óc phản bác (hay ưa nói nghịch), đều có lẽ vì bị cái “tâm cảm tự ty”: họ dìm kẻ khác để nâng cao mình lên. Ngoài ra họ không còn phương tiện gì khác để nâng cao giá trị của họ cả.

Tìm ra một vấn đề hay một câu hỏi rồi, bấy giờ lật sách ra mà đọc và cứ theo phương hướng đó mà đi, ta sẽ thấy lý thú vô cùng.

Đọc sách mà thiếu lòng hâm mộ, nhiệt hứng, đọc một cách thụ động…đó là một tật làm biếng nên tránh xa. Nhiều kẻ đọc sách để tự mình khỏi phải suy nghĩ: đọc mà tin cả sách, mà không dám phản ứng lại với sách, thì thà đừng đọc sách còn hơn. Đọc sách như thế tức là tự huỷ hoại tư tưởng cùng nhân cách của mình. Đọc sách là để khải phát cõi lòng thâm sâu của mình, tìm thấy con người chân thật và sâu sắc của mình, để tăng cường đời sống tinh thần của mình thì mới nên đọc sách mà thôi. Nhược bằng đọc sách để mà nô lệ sách vở, đọc sách để mà bắt chước suy nghĩ theo kẻ khác thì đọc sách rất là có hại.

Pascal cũng có nói: “Con người không phải là một vị tiên thánh, mà cũng không phải là một con vật. Và kẻ nào chỉ muốn làm bực thánh lại trở làm con vật”.

Đem những hoàn cảnh trái ngược với bản tính của nhân vật chánh trong truyện để làm nổi lên rõ ràng hơn tánh đặc sắc ấy, đó là phương pháp chung của những nhà văn đại tài và tâm lý sâu sắc.

Nên đọc tiểu sử các bực danh nhân thế giới. Nó sẽ giúp ta thấy rõ tâm lý phức tạp của con người, và những bực phi phàm cũng chỉ phi phàm ở những mực độ nào đó thôi. Có nhiều lúc họ cũng tầm thường hơn chúng ta nhiều.

Những tiểu thuyết phải đọc là những tiểu thuyết có tánh cách soi đường chỉ nẻo, cắt nghĩa đời sống con người trải qua những giai đoạn đi tìm con đường lập chí. Loại tiểu thuyết ấy trong văn học giới rất ít. Những quyển Les Annees d’Apprentissage de W.Meister của Goethe; Jean Christophe của Romain Rolland là những bộ sách không thể bỏ qua được đối với những người tự học. Sách Việt dĩ nhiên là chưa có loại nầy.

Có hai loại tiểu thuyết, một loại giúp ta trốn cuộc đời hiện tại và một loại giúp ta sống cuộc đời hiện tại bằng cách nhìn thẳng vào thực trạng của nó.

Người ta sở dĩ khác muôn vật là có tánh không chịu an phận, không chịu mãn nguyện với hiện tại của mình, bao giờ cũng đứng núi này trông núi nọ, tìm cách thoát ly cuộc đời bình thường của ta đây để mà tưởng tượng một cuộc đời khác thú vị hơn, ly kỳ hơn, sung sướng hơn. Vì vậy, đối với phần đông, tiểu thuyết là nguồn an ủi duy nhất để ta có thể an phận mà vượt qua những đau khổ trắng trợn của cuộc đời đầy gió bụi và ngang trái… Đó cũng là sứ mạng cao cả nhất của nó, một sứ mạng văn hoá nếu nó đừng huyễn hoặc người đời đến lôi kéo họ vào cõi mộng và không còn biết phân biệt đâu là Thực, đâu là Mộng nữa. Nó là con dao hai lưỡi, nếu sử dụng sai lầm, nó là một tai hoạ cho người đời không nhỏ.

Andre Gide cho rằng: “Bài học của lịch sử nếu có thể nói là một bài học, là nó dạy cho ta biết rằng quá khứ không thể dùng để soi sáng tương lại, và muốn đối phó với những biến cố hiện tại và mới mẻ, thà có một đầu óc không quan thiết gì đến quá khứ còn hơn là có một đầu óc quá bị mù loà vì những ánh sáng giả tạo của quá khứ”.

Tánh tự nhiên của con người là hay tin những điều kẻ khác thuật lại. Vậy chớ ta không thấy, hằng ngày, bất kỳ là chuyện gì của ai thuật lại, ta sẵn sàng tin theo một cách dễ dàng, không đòi hỏi một bằng cứ nào cả hay sao? Trừ ra khi nào tin tức ấy quan hệ đến nhiều, ta mới chịu để ý đến mà phê bình, mà gạn lọc…bằng không, nếu câu chuyện ấy không đến ngớ ngẩn hay phi thường thì ta nhận nó ngay, lại còn đem nó mà thuật lại cho kẻ khác nghe và có khi lại còn tô điểm thêm cho nó có duyên hơn là khác nữa. Bất cứ ai thành thật với mình đều phải công nhận rằng mình thường có tánh hay lười biếng cẩu thả như thế. Bởi vậy óc phê bình không phải là tánh tự nhiên của con người, mà cần phải tập luyện cho nó lâu ngày mới thành thói quen được.

Quá khứ là nguồn gốc sự hiểu biết của con người.

Họ không quen quan sát, nhứt là họ không biết cách quan sát. Mà phần đông con người là thế. Ta không nên quá tin cậy nơi trí nhớ của ta. Lại nữa, ta cũng cần để ý đến điều quan trọng nầy: Ta chỉ có thể thấy được những gì ta đã biết thôi. Những y sĩ quen với cách sắc bệnh nhân, hễ nhìn ai là họ đã nhận thấy kẻ ấy đau bệnh gì rồi mà chính người ấy soi mặt hằng ngày không thấy biết gì cả.

Chứng cứ sai không phải luôn luôn do sự thiếu trí nhớ. Thường lại do nơi sự nhận thức sai lầm. Chính ngay vào lúc ta nhận thức sự vật, đã bắt đầu có sự thay đổi dạng rồi. Ở đây, ta lại đi vào cái giới bao la của “tình cảm”. Ta thấy sự vậy, thường ít khi nào y như nó có thật mà thường thường là theo cái chiều của ý muốn của ta ao ước nó phải xảy ra như thế nào. Dục vọng, yêu ghét, óc phe đảng, tự lợi…làm cho ta giải thích sai lầm tất cả những điều ta nghe thấy. Không cần phải nói ra, cái kết quả tai hại của những chuyện hiểu lầm rất đáng tiếc thường xảy ra giữa người và người, hoặc giữa dân tộc khác nhau, rất là chan nhản, không ai không thấy.

Những chứng cứ của kẻ khác mang lại cho ta đâu phải là luôn luôn đúng với sự thực trăm phần trăm. Trái lại, có khi nó chỉ là những phán đoán hay phỏng đoán của kẻ khác, trong đó đã pha phách ít nhiều dục vọng ưa ghét rồi. Thật vậy, những điều kẻ khác mang lại cho ta toàn là những điều mà họ muốn cho ta thấy như họ. Nếu họ ưa thì họ sẽ thêm thắt hoặc xới bớt câu chuyện, sắp đặt cách nào mà cho câu chuyện trở nên dễ ghét.

Có những câu chuyện xưa khởi đầu bằng câu: “Xưa kia, có tích rằng…” hay “Có kẻ nói rằng…” đều là không thể tin là thực sự được. Những câu chuyện do thiên hạ đồn, nhưng không biết đích xác là của ai, đều là những chuyện không tin vội…

Trước toà nếu có hai người chứng thuật lại một cậu chuyện giống nhau từng chi tiết, từng lời ăn tiếng nói như trả một bài học thuộc lòng, quan toà dĩ nhiên sẽ không thể không nghi ngờ rằng đây là một sự a ý của người chứng. Vậy ta có thể kết luận rằng: Những tài liệu so sánh với nhau, được nhận là đúng nhau khi nào nó giống tương tự nhau thôi, chứ không giống như khuôn.

Ở đời cũng có không biết bao nhiêu chuyện có thật mà rất vô lý, lại cũng có không biết bao nhiêu chuyện rất hợp lý mà lại không có thật. Khoa học chưa phải đã đạt đến mục đích cuối cùng của nó: nó còn đang dò dẫm, tìm kiếm bơi móc những huyền vi của tạo hoá. Cho nên, biết đâu theo quan niệm hiện thời của khoa học, chuyện là vô lý mà vài ba chục năm sau nầy, chứ đừng nói nửa thế kỷ sau nầy, khoa học tiến bộ sẽ lại cho đó là hợp lý. Cách vài trăm năm nay nói đến những luồn điện giết người cách ngoài ngàn dặm người ta sẽ cho là vô lý, mà ngày nay chuyện ấy đâu còn là vô lý nữa. Ta lại cũng nên để ý câu nầy của Diêm thiết Luận: “Vì không trông thấy mà cứ không tin thì cũng như con vè sầu không biết tuyết”.

Trong đời sống hằng ngày, bât 1luan65 là một tin gì kẻ khác mang lại cho ta, ta phải thận trọng phê bình gắt gao mới được, nhứt là những câu chuyện thiên hạ đồn đãi, hoặc là những tin tức báo chí đưa đến cho ta. Báo chí, thường là một cơ sở buôn bán ở dưới quyền điều khiển của tiền bạc hoặc là những cơ quán tranh đấu chánh trị, thường dễ bị dục vọng chánh trị chi phối và lôi cuốn. Đối với họ, ta phải hết sức dè dặt cho lắm mới đặng. Bằng không, vô tình ta sẽ là cái mồi thơm của họ rất dễ dàng, và nhân thế tự mình làm giảm nhân phẩm của mình để biến thành một con vật hi sinh vô ý thức.

Biết mình là cái học đầu tiên của người có tri thức.

Con người không phải là một sinh vật độc lập trong hoàn vũ, mà là một sinh sống trong hoàn vũ. Người học thức không thể giam mình torng “luỹ tre xanh”, mà phải có một sự hiểu biết những cái gì xa xăm trong không gian và thời gian mới được. Không có được sự hiểu biết ấy thì có khác nào kẻ sống trong một thung lũng, không bao giờ vượt ra khỏi những dãy núi chung quanh, suốt đời giam mình trong một vòng chân trời eo hẹp… Họ cần phải biết vượt thời gian và không gian để mà nhìn cao và nhìn rộng, biết rõ được hoàn cảnh xã hội của mình đang sống, biết đặt hoàn cảnh xã hội ấy trong một khung cảnh rộng hơn và bao bọc nó, đem dân tộc mình sánh với dân tộc khác, biết đem nhân loại đặt trong một khung cảnh rộng hơn là vạn vật trong vũ trụ.

Người học thức Việt Nam ngày nay không thể là một người chỉ biết có một thứ tiếng mẹ đẻ mà thôi. Ít ra cũng phải có một cơ sở về sinh ngữ tối thiểu về Hán văn, Pháp văn hay là Anh văn. Những dân tộc hậu tiến là những dân tộc cần phải biết được nhiều ngoại ngữ chừng nào hay chừng nấy – mới mong theo kịp các nước tiên tiến – mới có thể gọi là “đa văn quảng kiến”.

Đọc sách mà muốn có được kết quả là phải là một công trình học tập, chứ không thể là một công việc giải trí của những kẻ nhàn hạ. Họ, không có nghĩa là chỉ để ứng dụng lập tức, mà trước hết phải làm một công trình văn hoá nghĩa là công việc đào luyện trí não và tinh thần.

Đào luyện nhãn thức, phương pháp muôn đời là tập làm văn. Thật vậy, làm văn hay tức là biết tư tưởng đúng đắn mực thước, tức là biết phân tích tinh tế tình cảm của mình, tức là biết dùng danh từ đúng với tình ý và tư tưởng của mình, nghĩa là biết so sánh, cân nhắc, biết dùng những câu văn sáng sủa mà hàm súc, gọn gàng và bóng bẩy, chứ không phải như những kẻ cầu kì phiền phức, dùng toàn sáo ngữ mà không nói được một ý nghĩ tân kì. Viết được một bài văn hay tức là mình đã tào luyện cho mình được cái khiếu biết điều hoà và mực độ, biết lợi dụng những phương tiện nghệ thuật để diễn tả tư tình cảm mình một cách nhẹ nhàng.

Người ta bảo, ngoài phép viết văn, cũng còn rất nhiều nghệ thuật khác có thể giúp ta đào luyện tinh thần nhận thức như, vẽ, hoạ, nhạc v.v.. Nhưng, nghệ thuật viết văn có tính cách thực dụng hơn. Nhạc, thì ta có thể cảm được hay không cảm được, nhưng nói ra được “cái cảm” của mình thật là khó mà thực hiện cho rõ ràng được. Một bài văn hay, xem qua có thể biết liền và ta có thể nói ra được cảm tưởng của mình, người dạy cũng có thể giảng ra được cái hay của nó.

Văn là người. Người mà tâm hồn chất phác thật thà thì văn cũng chất phác thật thà. Tư tưởng mà được hàm dưỡng, thì lời văn hàm súc sâu xa. Cho nên học làm văn, cần phải học làm người trước hết.

Chân lí là một cái gì duy nhất, bao trùm; khoa học chỉ đơn giản là cắt xén nó ra từng mảnh vụn vặt để nghiên cứu riêng về một khía cạnh nào thôi. Mỗi khoa học chỉ nhìn thấy có một khía cảnh chứ không sao thấy được thật toàn diện.

Sứ mạng của Triết học là nhắm vào sự thoả mãn óc thống quan của con người, tổng hợp lại những gì rời rạc, mâu thuẫn trong đời, nhìn cuộc đời một cách cao xa và rộng rãi hơn như người đứng trên núi cao mà nhìn khắp chân trời… Vì vậy, nhờ óc triết học, người ta thấy được sự liên lạc giữa các sự vật vì bao giờ cũng có cái nhìn bao trùm. Khoa học thì thiên về óc phân tích hơn, triết học thì chuyên về óc tổng quan hơn.

Bắt đầu các bạn nên khởi bằng tâm lí học, rồi tiếp đó luận lí học và luân lí học. Đó là hệ thống mà người ta đã dùng trong các lớp triết học.

Đọc triết học không nên đọc sách một chiều. Như trước đây tôi đã nói, ta nên tìm mà đọc những lí thuyết tương phản. Lại cũng không nên tản mát tư tưởng của mình trong những học thuyết này, học thuyết kia vô cùng phiền phức. Trong các học thuyết, cần phải chọn lọc cái nào hợp với tâm hồn ta, bấy giờ cũng như lựa bạn mà chơi, ta hãy quyết tâm đi cho thật sâu vào học thuyết ấy để tìm lấy một con đường tu tâm xử thế đúng theo nguyện vọng thâm sâu của lòng mình. Sách mà đọc nhiều quá cũng có hại, vì nó không ảnh hưởng gì ta được cả. Người xưa có nói: “Tôi sợ người chỉ đọc có một quyển sách mà thôi”.

Để hiểu đặng một học thuyết, điều thứ nhất là phải đi vào trong đó và điều kiện thứ hai là phải ra khỏi nó.

Người có óc triết học không phải là người chết trong các chồng sách triết học, mà là người đã biết thuần hoá cái học của mình rồi. Pascal nói: “La vraie philosphie se moque de la philosophie. (Chân triết học chả cần gì đến triết học).

Người ta đã nhận xét rất đúng: “Thiếu dục vọng, khó mà làm nên đại sự”. Kẻ thiếu nhiệt thành là những kẻ tầm thường. Học mà không biết ham mê, không bao giờ thành công. Luận ngữ có nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học, không bằng vui say mà học”.

Người có văn hoá cao là người có Tâm và có Trí.

Một nhà tâm lí học có nói: “Quên là điều kiện cần thiết của cái Nhớ“.

Thơ là một nghệ thuật bao gồm gần hết các nghệ thuật. Theodore Bainville nói: “Thơ là gồm cả âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, hùng biện. Và phải chăng nó là một nghệ thuật bao gồm đầy đủ nhất”. Và theo Lamartine, một câu thơ hay phải gồm đủ 4 yếu tố sau này” phải có cảnh, có tình, có tứ, có nhạc. Nghĩa là nó phải thể hiện được một cái tứ cho trí não, một cái tình cho tâm cảm, một hình ảnh cho con mắt và một nhạc điều cho lỗ tai.

Thơ hay là ở sự khêu gợi, chứkhong6 phải ở chỗ nói hết được ý mình. Những cái mông lung, mờ mịt càng kích động óc tưởng tượng và làm cho câu thơ trở nên huyền ảo li kì… Tiếng đàn hay là hay ở dư âm… Câu thơ hay là hay ở chỗ hàm súc, lời vắn tắt mà hậu ý thâm trầm man mác.

Con người đâu phải chỉ sống bằng Lí, mà cũng phải sống bằng Tình. Một đời sống mà người ta chỉ nghĩ đến ăn, ngủ, làm việc…mà lòng mình không bao giờ biết đến những cảm xúc mãnh liệt của tâm tình, thì dễ chán làm sao!

Các bậc đạo học cam thâm thường là những kẻ thích sống trong những cảnh non cao rừng thẩm, chẳng phải để tránh đời mà là vì hợp với tâm hồn thiên về hướng nội của mình hơn. Kẻ nào thích sống một mình, bao giờ cũng là người thâm trầm sâu sắc hơn nên thích sống trong nhộn nhịp tưng bừng của bè bạn, hội hè…ảnh hưởng của thiên nhiên đối với tâm hồn thật là rõ rệt như ta đã biết qua khi bàn đến trước đây ảnh hưởng của địa lí đối với tâm tính con người.

Họ tìm về nhà quê, bên sườn núi, hay những bãi bể vắng vẻ để xa hẳn với mọi liên lạc, từ chối cảu sự luyến ái tâm tình cùng bè bạn. Trong một khủng cảnh rộng rãi bát ngát như thế mới hợp với tâm hồn của họ được. Ở giữa sự nhọn nhịp tưng bừng của các đô thị lớn, thì một tuồng hát, một bài báo, một câu chuyện ngồi lê đôi mách cũng sẽ thành ra điều quan trọng, lấn át cả công việc của ta, cả tình cảm đứng đắn của ta. Nhưng dưới cảnh trời sao mênh mông bát ngát, những chuyện vụn vặt ấy phải chìm lần mất hẳn trong bóng tối,  trong sự im lặng ban đêm và trong sự im lặng tâm hồn. Trên những khoảng bao la man mác thì mọi sự phù phiếm vô giá trị đều bị gạt bỏ hết, và ta có thể xây dựng được những công trình lâu dài. Sự tĩnh mịch không bao giờ làm hèn yếu con người đâu.

Đừng bắt chước việc làm của những kẻ làm việc suốt ngày suốt đêm, để rồi nằm không chổng cẳng ngủ cả hai ba tuần lễ sau. … Cứ ngày nào cũng học mười lăm phút đồng hồ thôi, nhưng ngày nào như ngày nấu, không bao giờ sai chạy. Đó một thói quen rất tốt cho những ai muốn làm nên việc lớn và đó cũng là một phương pháp để luyện tập ý chí.

Sự làm việc, có ngày ta hăng  hái, có ngày ta uể oải, bơ phờ… Nhưng kinh nghiệm cho ta biết rằng, dù có hứng hay không có hứng, phải tự mình cương quyết đặt cho mình một kỉ luật là phải ngồi lại bàn làm việc, cầm viết lên…rồi thì “cái máy” của ta cũng bắt đầu “ấm” lại và “mở máy” chạy như thường. Đừng bao giờ tự nhủ: “Hôm nay thấy trong mình không muốn làm việc…Vậy hẹn ngày mai!” Đó là cách nuôi dưỡng cái tính lười biếng của ta mà thôi.

Bất cứ học môn nào phải khởi đầu bằng những yếu tố đầu tiên của môn học ấy, nghĩa là khởi học lại những căn bản sơ đẳng và đừng bao giờ đốt giai đoạn. Phần nhiều những thất bại về tinh thần đều do sự không biết xây đắp vững chắc cho nền tảng học thức đầu tiên của ta.

Đối với người làm việc, cần phải có bổn phận là gạt bỏ những kẻ làm mất thời giờ của mình, tức là những kẻ phá quấy ta. Lễ độ, nhẫn nhục đối với họ đều là những lỗi lầm nặng. Phải hết sức gắt gao đối với hạng người này, đón rước họ tức là mình tự phá hoại đời mình đó.

Kẻ nào tự mình để cho kẻ khác xâm chiếm sẽ bị xâm chiếm, và rốt cuộc rồi cũng sẽ không để lại được cho đời một công trình gì đáng kể. Kẻo nào ham mê làm việc phải biết từ khước tất cả mọi việc nhảm, làm phí thời giờ quí báu của mình, như những cuộc hội họp, trò chuyện, tán hão và không đâu.

Kỉ luật “quí thời giờ” này bắt ta cũng đừng để cho tình cảm không đâu làm phí tổn thời giờ khó kiếm của ta trong khi ta đang làm một công việc quan trọng. Cái ý nghĩa cao cả đời sống của một bậc nam nhi không phải ở trong những mối tình cảm cỏn con, chỉ làm tổn thất thời giờ vô ích. Người có quyết tâm làm nên đại nghiệp cần phải biết hi sinh. Có nhiều bạn trai đầy nhựa sống, đầy thiên chí, đầy khả năng làm việc và học hỏi lại bỏ mất thời gian quí báu của mình để bận đến những mối tình “đầu lưỡi” của các bạn gái lãng mạn. Có bao kẻ học thi lại vì những tình cảm không đâu, đành phải làm hại cả một đời mình vì một vài cô nhí nhảnh! Phải dám hy sinh tình cảm mình cho những công trình quan trọng hơn.

Người đàn bà mà không, sẽ làm nên sự nghiệp cho chồng, giúp cho chồng đạt thành sở nguyện bằng sự hi sinh, không đòi hỏi nơi người đàn ông phải vì mình làm mất những thời giờ quí báu trong khi làm việc. Bà vợ của Edison là gương của một người đàn bà của một bậc vĩ nhân. Bà kính cẩn tôn trọng những giờ phú làm việc của chồng như một cái gì thiêng liêng bất khả xâm phạm, và suốt đời không bao giờ đòi hỏi chồng phải chiều chuộng mình mà làm mất thòi giờ quí báu của chồng.

Việc gì cũng vậy, hãy  từ từ mà làm, đừng làm hối hả, vụt chạt, làm một cách tắc trách mà phải làm một cách đàng hoàng dứt khoát với tất cả tâm hồn. Phải tập quen cái tính này: không bao giờ chịu làm một việc gì mà làm cho có, miễn cưỡng, cẩu thả và phải làm lại một lần thứ hai.

Khổng Tử có nói: Học cho rộng, hỏi cho kĩ, phân biệt sáng rõ, làm cho hết sức. Có điều không học, những đã học điều gì không hay, không thôi. Có điều không hỏi, nhưng đã hỏi điều gì mà không biết, không thôi. Có điều không phân biện, nhưng đã phân biện điều mà không minh bạch, không thôi. Có điều không nghĩ, nhưng đã nghĩ điều gì mà không nghĩ đến nơi, không thôi. Có điều không làm, nhưng đã làm điều gì mà chưa tận lực, không thôi. Người ta dụng công một, ta dụng côngg một mà không được thì phải dụng công gấp trăm, người ta dụng công mười, ta dụng công gấp mười mà không thành thì phải dụng công gần nghìn để đến kì được mới thôi. Nếu quả theo được đạo ấy thì tuy ngu rồi cũng thành sáng, yếu rồi cũng thành ra mạnh. (Trung Dung)

Học, là gia tăng sự hiểu biết của mình, là mở rộng tâm hồn mình bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của kẻ khác làm của mình. Có khác nào một đứa trẻ mới sinh, cân không đầy hai, ba kí…thế mà nhờ càng ngày càng lớn đến năm, sáu chục kí…trong khoảng vài mươi năm sau? Phải chăng nhờ rút lấy những vật liệu chung quanh: không khí, món ăn, món uống…mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, nghĩa là càng ngày càng mới, càng ngày càng cao, càng ngày càng lớn. Bởi vậy, trước đây tôi có nói: “Học cũng như ăn“.

Vậy trước một câu chuyện nào bất luận, ta phải tự hỏi:
-Ai thuật lại chuyện đó?
-Người thuật lại chuyện đó có thuật lại rõ ràng câu chuyện của họ thuật chang7?
-Người đó có thể tin cậy được chăng?
-Người đó có phải là người hay quả quyết suông những chuyện vu vơ, và họ làm thế là để thích ra mặt sành chuyện hơn người không?
-Người ấy có quyền lợi gì để dối mình hay dối người chăng?

Nếu mình cảm thấy mất ngủ, thì phải ngưng lập tức các công việc làm bằng trí óc, và hãy đi ra ngoài chỗ thoáng khí. Sự mất ngủ, nếu không phải do sự dùng chất kích thích thần kinh như rượu, trà hay cà phê cùng thuốc lá hoặc vì ăn quá no, thì đó là triệu chứng của sự làm việc quá độ. Khi nào ngủ lại được thì mới nên bắt đầu làm việc lại. Những lo âu, cũng là nguồn kích động làm cho ta mất ngủ.

Ngoài trời rộng, đi bách bộ, giúp cho máu chạy mạnh, rất có lợi cho sự trầm tư mặc tưởng. Nhà nhạc sĩ đạ tài Beethoven thường thích lưu động ngoài đồng ruộng. Trong khi tôi đi thì đầu óc tôi làm việc mãnh liệt. Stuart Mill thuật rằng phần lớn quyển sách Logique ông đã được nghiền ngẫm trong những lúc đi làm việc phải đi bách bộ đến sở.

Làm việc ban đêm đừng bao giờ quá khuya, sau 10 giờ đêm là phải ngưng làm việc ngay. Không có gì nguy hại bằng cách tiêu pha sức khoẻ của mình trong các tiệm nước hay các rạp xine. Những giờ nghỉ, cần tìm cách tiêu khiển ngoài trời tốt hơn, nhưng cũng đừng quá phung phí sức mình trong các cuộc thể thao quá nhọc mệt.

Học mà không hoá có hại cho tinh thần, cũng như ăn mà không tiêu, có hại cho sức khoẻ. Người có học thức là người đã “thuần hoá” cái học của mình. Bởi vậy, học mà đến mức gần như quên tất cả sách vở mình đã học, cái học ấy mới gọi được là cái học “tinh nghĩa nhập thần”.

Người có học thức là người dường như không biết gì cả, mà không có gì là không biết.

Người ta bảo rằng lúc Pasteur thi vào đại học, chỉ đậu hạng ba hạng tư gì đó. Năm ấy, ông không chịu vào đại học. Học thêm một năm nữa, kì thi năm sau ông đứng đầu. Ông tự cho rằng sức ông còn yếu, nên cần học lại thêm một năm nữa, đâu có muộn gì, bởi theo ông cần nhất là phải có thật tài hơn là hối hả trong công trình học vấn. Thật có khác với đầu óc tầm tưởng của phần đông chúng ta ngày nay, bao giờ cũng muốn cướp thời gian và thành công mau lẹ.

Triết học giúp ta nhận chân được sự tương đối của khoa học, sự hạn định của nó trong vấn đề nhân sinh và nhắc cho ta nhớ rằng còn có nhiều giá trị khác nữa cũng không kém quan trọng.

Muốn có được luôn luôn một đầu óc sáng suốt phải biết tập cho mình cái thói quen tìm ngay cái ý chánh, biết phân biệt liền cái gì là yếu điểm với những gì là phụ thuộc, nhất định không bao giờ để mình bị lôi cuốn thoe những đề phụ…mỗi khi đọc sách, xem tranh, làm văn, xem kịch hay nghe tiểu thuyết…
Nhất là khi đọc sách. Đọc sách là phương tiện quan trọng nhất torng khi tự học. Đọc sách mà muốn tìm nắm lấy cái đại ý của toàn tập, phải đọc nó suốt một hơi, đừng bận những tiểu tiết về văn từ cũng như về ý tưởng. Về sau sẽ đọc trở lại vài lần một khi đã nắm được đại ý. Bấy giờ ta sẽ đọc kỹ lại từng thiên, từng đoạn, từng câu. Nhưng bao giờ cũng phải biết để ý đến chỗ thuần nhất của nó.

Đọc sách để mà học, cần phải chọn lọc thật kỹ. Sự gần gũi thân mật với những loại sách quá tầm thường sẽ càng ngày càng làm hạ thấp tinh thần trí não ta. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

Người xưa khuyên người trí thức phải có một cái học “thượng tri thiên văn, hạ tri địa lí, trung tri nhân sự” thật là chu đáo. Phải chăng đó cũng là cao vọng của tất cả mọi người hiếu học, mong mỏi có được một vốn học vấn rộng rãi vững vàng.

Bernard có nói: “anh sẽ tìm được một cái gì rộng rãi hơn và sâu thẳm hơn trong những cảnh rừng hoang vu vắng lặng hơn là trong sách vở”.

Óc hẹp hòi là những đầu óc không thể thưởng thức nổi những gì mình không ưa thích. (Charles BAUDOIN)

Ta nên để ý hai điều nầy:

  1. Trước một sự vật, chỗ nghe thấy của ta không boa giờ đầy đủ đặng. Có nhiều việc và chi tiết ta không thể nghe thấy đặng, mặc dù ta đã để cả hia mắt mà nhìn, hai tai mà nghe.
  2. Sự nguỵ tạo của trí nhớ rất là tai hại. Thường ta hay thêm vào những gì ta không nhớ để cho sự nhớ được đầy đủ. Chính đó là cách nhận lầm cái bóng đen là kẻ trộm, sợi dây thừng là con rắn. Thấy tron bóng tối mập mờ một sợi dây thừng, và bởi thấy không rõ, ta bèn dùng trí tưởng tượng mà thêm vào và cho đó là con rắn

Văn hào Anfre Maurois cũng có nói:
“Những người làm việc nhiều, nên thỉnh thoảng sống một đời sống ẩn dật”…

Những bài nghiên cứu đứng đắn ở các báo chí trang nghiêm thật ra không dùng được gì cho những kẻ thiếu căn bản học vấn. Những bài báo ấy chỉ có ích lợi cho những nhà chuyên môn hay học giả mà thôi, để họ theo dõi tình hình hiện tại của khoa học hay văn học trên thế giới. Những báo chí có vọng đào luyện học vấn cho quần chúng bằng một cái học truyền bá phổ thông kể ra thật là mỏng manh, vì tự nó muốn đào tạo văn hoá mà miễn phải dùng đến sự cố gắng tinh thần, lại chỉ đi tìm những con đường tắt thì đó cũng  đã là sai rất xa với nguyên tắc đầu tiên của văn hoá rồi. Cho nên phần nhiều cái vốn học vấn tìm thấy trong bao chí không có là bao.
Tóm lại những báo chí nghiên cứu đứng đắn thường viết ra cho những người đã có một học vấn khá cao. Báo chí văn học và khoa học chỉ là những món ăn bổ túc, chứ không phải là những món ăn căn bản. Muốn có được một món ăn căn bản và xây dựng, phải dùng đến những phương tiện khác, tôi muốn nói đến “sách”. Báo chỉ đem lại cho ta những cái có thừa, nhưng lại để cho ta thiếu những cái gì cần thiết.

Dù báo chí có cố gắng trình bày sự việc xảy ra hằng ngày một cách hết sức khách quan, thực sự bên trong bao giờ cũng có những ý kiến chủ quan, những phê phán đại cương để tỏ ra những “thái độ” hơn là những “chân lý”. Báo chí là tiêu biểu lý tưởng hoặc nhu cầu của một hạng độc giả nào. Ngoài ra báo chí cũng không còn có sứ mạng nào khác hơn được nữa, nghĩa là không làm sao vô tư khách quan được.
Bởi vậy các sự việc xảy ra đều được họ trình bày theo những khía cạnh thuận lợi cho quyền lợi và chánh kiến của họ, còn những gì không lợi cho họ, họ giả lờ bỏ qua, hay chỉ nói phớt qua cho có. Như thế, đọc báo mà chỉ đọc “chết” một tờ thì dù có thiện chí đến bực nào, óc sáng suốt cũng sẽ có ngày mờ tối đi, óc phê bình cũng sẽ có ngày lệch lạc.
Muốn thấy đặng như sự thật, phải đọc báo như đọc sử, nghĩa là phải biết phê bình như người ta phê bình sử liệu.

Một nhà tri thức có văn hoá cao mà không thích thơ, hoặc không biết làm thơ, không biết thế nào một câu thơ hay và hay ở chỗ nào thì tôi cho là điều thiếu sót đáng tiếc – Có nhiều kẻ đã vu cho Thơ là mơ mộng, là huyền ảo, là lơ lửng trên không… Nhà văn Ernest Bersot trả lời:
“Người ta thường tin tưởng rằng Thơ là giả dối bởi nó biết thể tất cả những nó mó đến, người ta lầm: Thơ, không phải là giả dối, nó chính là chân lí đấy, nhưng là thứ chân lí mãnh liệt hơn cái chân lí trong đời sống tầm thường”.
Theo Lamatine, “Thơ là một sự an ủi tâm hồn mình bằng những tiếng khóc nức nở của quả tim”. Nó là tiếng “kêu thương, rên rỉ” của tâm hồn. Bởi vậy Anatole France mới nói: “Khoa học không quan tâm gì đến việc làm vui lòng hay làm buồn lòng ai cả. Vì vậy, nó không có lòng nhân. Thơ làm cho ta say mê ngây ngất, an ủi vỗ về ta, cho nne6 nó còn cần thiết hơn là khoa học”.
nhà bác học Darwin, lúc về gia than thở vì đã mất hứng thú về mĩ cảm: “Từ mấy năm nay tôi không thể đọc được một câu thơ nào cả… Tôi cũng không thể đọc Shakespeare…lại cũng không còn ưu thích hoạ và nhạc nữa… Than ôi, mất những hứng thú ấy là mất một nguồn hạnh phúc, có thể rất nguy hại đến sự thông minh và tính tình của mình bằng sự làm giảm mất cảm xúc của tâm hồn.

Người học thức, tức là người thà biết ít mà thật biết những gì mình biết, còn những gì mình không biết, thì cũng biết rõ là mình không biết. “Không có sự dốt nát nhục nhã nào bằng tin tưởng rằng mình đã biết trong khi mình chưa biết”. Văn hoá làm một vấn đề thuộc phẩm chứ không phải lượng.
Tuy nhiên, càng biết rộng càng hay, càng biết sâu càng quý. Một cái học về bề rộng mà kém về bề sâu, làm một cái học nông nổi phù phiếm. Một cái học về bề sâu nhưng kém về bề rộng, là một cái học câu chấp hẹp hòi. Cả hai đều là thiếu sót cả. Có được một cái học rộng rãi thì tránh được nạn thiên kiến chấp nhất. Có được một cái học chuyên mộn thì cái học của mình mới biến thành thực dụng. Điều hoà được cả hai lối học ấy là thực hiện được mức cao nhất của công trình văn  hoá của mình.
Đọc sách và biết đọc sách rất cần, nhưng chính mắt thấy tai nghe, biết nhìn xem và quan sát, biết suy nghĩ và phê bình những sự việc chung quanh ta hằng ngày lại càng cần hơn. Cía lợi của sách là giúp cho mình suy nghĩ, chứ không phải suy nghĩ thế cho mình. Học khoa học và triết học rất cần, nhưng đào tạo đào tạo cho mình một tinh thần khoa và triết học lại càng cần hơn.

 

Chương trình học vấn có thể tóm gọn trong 3 điều này:

  1. Có một kiến thức rộng rãi về sử học, thiên văn và địa lí.
  2. Tạo cho mình có được một đầu óc khoa học, biết cách vật trí tri.
  3. Cố gắng đi lần đến một quan niệm tổng quát về cuộc đời nghĩa là đi đến một quan niệm triết lí về vũ trụ và nhân sinh.

 

Có ba thứ dốt:
Không biết những gì mình phải biết;
Không biết rành những gì mình biết;
Biết những gì mình không nên biết.
(La ROCHEFOUCAULD)

 

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,
Học hành không thiếu, cũng không dư.
Năm nay tính lại: chừng…quên hết,
Chỉ nhớ trên đầu một chữ “như”.

 

Nguyên tắc học:

  1. Đi từ dễ đến khó
  2. Làm việc đều đều không gián đoạn
  3. Khởi đầu bằng những yếu tố đầu tiên
  4. Biết lựa chọn
  5. Quí thời giò làm việc và đặt cho nó thành một kỉ luật
  6. Biết dùng thời giờ làm việc và tiết kiệm từng phút một
  7. Làm việc gì thì làm cho hoàn tất
  8. Có một sức khoẻ dồi dào
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s